Một nghệ phẩm là một mô hình dừng lại của một thế giới bất tận.
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)


THÔNG DỊCH SANG HÌNH ẢNH HAI CHIỀU

Trẻ nhỏ dùng cách nào để giải quyết bài toán thể hiện chiều sâu và sự nổi khối, có nghĩa, thể hiện chiều đo lường thứ ba? Chắc có lẽ, để bàn về vấn đề này, đầu tiên cần nhớ lại một số luận điểm mà chúng ta đã phát biểu trước đây. Như một quy tắc, hình ảnh mỹ thuật không đặt nền tảng trên một đối tượng cụ thể nào đó được nhìn thấy trong một thời điểm nào đó từ một điểm quan sát nào đó, mà được dựa trên một hình dung trực quan ba chiều về đặc tính của các đối tượng, có được trong kết quả nhận thức sự vật qua các góc nhìn khác nhau. Thông thường, nhận thức không hàm chứa các thay đổi phối cảnh của kích thước và hình dạng, được nhận ra trong hình chiếu trên võng mạc mắt. Một hình ảnh mỹ thuật không phải là bản sao nhiệt tình mang tính máy móc của đối tượng nhận thức, mà là một sự tái tạo các tính cách kết cấu của nó dựa vào một số phương tiện cụ thể. Trí thông minh ở trẻ em vốn có sẵn hai thứ. Thứ nhất là ý thức tự phát về những đòi hỏi chính thống cần thiết có trong một bức vẽ. Thứ hai là sự ngoan ngoãn tức thời trước những đòi hỏi này. Khi hình ảnh bị gò bó trong một hình chiếu hai chiều, thì đối với mỗi một đối tượng hay mỗi một phần của đối tượng, một hình chiếu đặc trưng nhất và đơn giản nhất sẽ được lựa chọn.




SỰ DUNG NHẤT CỦA CÁC PHẦN

Trong các giai đoạn đầu của quá trình phát triển mỹ thuật, để có được phép vi phân hình dạng, người ta đã dùng phương tiện thêm các nguyên tố độc lập vào tổng thể. Chẳng hạn, đứa trẻ sẽ vượt qua phương thức thể hiện hình người trong dạng hình tròn bằng cách thêm vào tranh vẽ những đoạn thẳng, các vật thể có hình dạng kéo dài hoặc các đơn vị tạo hình khác. Mỗi một đơn vị này sở hữu một hình dạng đơn giản dễ xác định. Chúng giằng co với nhau đồng đều theo những quan hệ định hướng đơn giản, đầu tiên là ngang-dọc, sau đó là nghiêng. Kết cấu của những mô hình tương đối phức tạp trong tổng thể có thể đạt đường bằng cách kết hợp vài mô hình đơn giản. Điều đó không có nghĩa rằng, trong giai đoạn phát triển ban đầu, đứa trẻ không sở hữu hình dung tích hợp về đối tượng trong tổng thể. Sự đối xứng, tính đơn nhất của tổng thể và phép chia tỷ lệ đang chỉ ra rằng, đứa trẻ cung cấp (trong khuôn khổ phạm vi xác định) cho các phần một hình dạng nào đó theo quan điểm sắp xếp cuối cùng của chúng trong mô hình chung. Nhưng phương pháp phân tích cho phép nghệ sỹ nhí của chúng ta trong mỗi một thời điểm xác định có thể tiếp cận với một hình dạng đơn giản hay với một hướng nào đó.




TƯ THẾ NGHIÊNG

Sau khi trẻ nhỏ có đủ năng lực phát triển nghệ năng thị giác để thể hiện những sự phụ thuộc góc vuông đơn giản nhất, chúng sẽ có khả năng đương đầu với những vấn đề phức tạp hơn — đó là thể hiện những hướng nghiêng. Đầu tiên là việc thêm đường chéo vào đường thẳng đứng và đường nằm ngang. Sau đó một chút, trong bộ công cụ của chúng sẽ xuất hiện những quan hệ về góc tinh vi hơn. Giờ đây, góc vuông đã biến thành một trường hợp đặc thù, với một giá trị đặc thù. Việc xem xét sự phát triển của các mối quan hệ này có thể được sử dụng để bàn luận các vấn đề phổ quát hơn. Tại sao khả năng vẽ của trẻ em lại tiến bộ từ tiến trình này tới tiến trình khác?




KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ TÍNH THẲNG VÀ TÍNH GÓC CẠNH ​

Chùm sáng trong mô hình mặt trời thường thấy nhất là được tạo thành từ các đoạn thẳng. Trong những điều kiện này sự lựa chọn một hướng cụ thể, có trong hình dung về một đoạn thẳng, được bù trừ bằng sự sắp xếp đối xứng của một tập hợp các đoạn thẳng bao trùm về mọi hướng với cấp độ như nhau. Trong một tư duy đã biết, hình ảnh mặt trời còn chưa đi quá xa khỏi tiến trình, khi tất cả các sự vật đều được thể hiện bằng phương tiện các hình tròn. Cũng cần nhấn mạnh rằng, sử dụng các đoạn thẳng riêng rẽ để thể hiện các vật thể ba chiều, đó là điều rất hiếm gặp. Thường thấy nhất, chúng bổ trợ cho một hình thù đã rõ đường viền. Các tia của chùm sáng kết nối với nhau ở tâm vòng tròn, các chi kết nối với nhau ở phần thân. Georg Kerschensteiner ¹, người đã nghiên cứu một số lượng lớn các bức vẽ của trẻ em, đã tuyên bố rằng, ông đã không tài nào phát hiện ra «những con người hình que», có phần thân không được tạo thành từ các đoạn thẳng. Chắc có lẽ, theo ý của ông, đó chỉ là một phương pháp tạo hình của người lớn. Hoàn toàn thấy rõ rằng, bức vẽ cần chứa đựng ít nhất một đơn vị hai chiều để truyền tải chất lượng không gian của «vật chất» bằng một phương pháp thỏa mãn được đứa trẻ. Những hình dạng dãn dài, hình oval thường được sớm sử dụng để kết hợp tính không gian với «tính định hướng», ví dụ trong hình ảnh phần thân của người hoặc con vật.



1.618   Âm dương   Âm nhạc   AndréKertész   Ánh sáng   Ảo ảnh   B&W   Bè nhóm   Bố cục   Bóng đổ   Cái đẹp   Cái nhìn mù   Cân bằng   Cao trào   Chân dung   Chất liệu   Chụp mù   chút-chút   Chuyển động   Cơ thể sống   Dấu hiệu   Diện mạo   Đối xứng   Dư thừa thông tin   Đường chéo   Đường dẫn   Fine art   Fotografiya_kak...   Hài hoà   HenriCartier-Bresson   Hình dạng   Hình thù   Hình thức   Hình tượng   Hội hoạ   Karl Bryullov   Kết cấu   KhoảnhKhắcQuyếtĐịnh   Không gian   Không gian âm   Không gian ảnh   Kiếp luân hồi   Lapin   Lee Miller   Leica   Liên kết   Liên tưởng   Lomo   Lưu niệm   Mặt phẳng ảnh   Mặt phẳng bẹt   Màu sắc   Miller   Miuka   Năng khiếu   Não bộ   Ngẫu nhiên   Nhận biết   Nhận thức   Nhịp điệu   Nội dung   Nóng và lạnh   Phân tích ảnh   Phát triển   Phát triển   Phối cảnh   Phông nền   Phóng sự   Phục hưng   Phylosophy   Psychology   Rangefinder   Raphael   Repin   Rê-pin   Rudolf Arnheim   RudolfArnheim   Sắc đẹp   Sắc độ   Sân khấu   Sành điệu   Sắp xếp   SevenPlusMinusTwo   Sống-Chết   Sự kiện   SusanSontag   Tam giác   Tâm lý   Tâm tưởng   Thể loại   Thị giác   Thơ ca   Thoát xác   Thống nhất   Thông tin   Tính đơn thời   Tình huống   Tính ngẫu nhiên   Tinh tế   Tính trong suốt   Tính tư liệu   Toàn vẹn   Tổng quát   Trí huệ   Trí nhớ   Trời và đất   Trọng âm   Truyền thông   Tư duy   Tương cỡ   Tương tác   Tưởng tượng   Tương tỷ   Tỷ lệ   Tỷ lệ vàng   Uyển chuyển   Vần điệu   Vô hình   Werner Bischof   Ý thức  

Page 1 of 1