Không có tuyệt mỹ bên ngoài sự thống nhất; không có sự thống nhất bên ngoài sự đồng thuận (muốn có sự đồng thuận đôi khi phải áp bức).
Denis Diderot 
(1713 - 1784)


KHỐI LẬP PHƯƠNG VÀ ĐƯỜNG TRÒN

Hình thù phẳng (mà ví dụ là các tượng thần bằng đá cẩm thạch từ quần đảo Cyclades) giới thiệu cho chúng ta biết về cơ thể người trong hai chiều đo lường. Bước tiếp theo của vi phân hình dạng là sự bổ sung thêm phép đo vật chất thứ ba, và vật thể đã có dạng khối lập phương trước mắt chúng ta. Ngoài mặt trước và mặt sau, ở đây đã có thêm hình thức từ hai mặt cạnh. Một kết cấu nhận thức thị giác của hình thù được hình thành từ bốn mặt cơ bản, nằm cận kề vuông góc với nhau. Những đặc tính của kết cấu đó lần đầu tiên được Emmanuel Levy đưa ra như một định luật phát triển của điêu khắc Hy Lạp cổ đại. Nhưng nếu nói chung, nó đặc trưng cho bố cục điêu khắc ở những giai đoạn đầu hình thành khả năng mỹ thuật.




THỎI VÀ TẤM

Phương pháp đơn giản nhất để truyền đạt một hướng, tương ứng với đường thẳng trong tranh vẽ, — đó là thỏi (sticks). Một thỏi vật lý luôn là một đối tượng có khối, nhưng, giống như độ dày của đường bút chì (hay của bút vẽ) không được đưa vào tính toán trong các bức vẽ hay tranh của trẻ em, thì một thỏi trong điêu khắc là sản phẩm của hình dung một chiều, ở đó chỉ tính đến độ dài và định hướng của thỏi. Ví dụ về điều này có thể được tìm thấy trong các hình thù làm từ đất nung ở Cyprus và Mycenae trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên (hình 144). Cơ thể của muông thú và con người, các chi, chân, tay, mõm, đuôi và sừng được gia công từ các phần làm chúng ta nhớ đến hình dạng của các thỏi và có đường kính khá giống nhau. Các nguyên tố dạng thỏi cũng có thể được tìm thấy trong nữ trang bằng đồng không lớn của thời kỳ Hình học ở Hy Lạp, có niên đại tám thế kỷ trước Công nguyên. Để làm ra các hình thù bằng đất sét hay chất dẻo plasticine, trẻ em sử dụng các thỏi, có bề ngoài giống như những chiếc xúc xích hay khúc giò. Có lẽ, trong giai đoạn này, dạng thỏi luôn luôn có mặt ngay từ lúc bắt đầu nhào nặn.




KHỞI SINH HÌNH THỨC TRONG ĐIÊU KHẮC

Những quy luật đã được chúng ta nghiên cứu về sự phát triển của hình thức được dựa trên các yếu tố tâm lý căn bản. Suy ra, có thể mong đợi rằng, chúng được áp dụng không những trong lĩnh vực vẽ và hội hoạ, mà còn có thể được sử dụng trong cả các thể thức khác của nghệ thuật. Chẳng hạn, thiết nghĩ sẽ là rất quan trọng nếu phân tích sự phát triển của các hình dung về hình thức trong dàn dựng sân khấu hay nghệ thuật nhảy múa. Có phải luôn luôn là vốn có hay không, một phẩm chất ở các đạo diễn hay các biên đạo múa — tương tự như lịch sử của các phong cách — những hình thức khởi đầu của bố cục, khác biệt nhau, có lẽ, ở những cách sắp đặt đối xứng và sự ưu tiên cho những định hướng không gian hay hợp nhóm chính diện và vuông góc, dựa trên sự đơn giản của những hình thù hình học? Có thể chỉ ra hay không, diễn biến dần dần của bước chuyển từ những hình thù này sang những hình dung phức tạp và phức tạp hơn nữa? Hiển nhiên là có thể. Chí ít, trong các ví dụ về sự thay đổi sơ đồ kiến trúc từ những hình tròn và hình chữ nhật đơn giản tới những kết cấu bố cục phức tạp hơn, về sự phân tách dần dần của các khối và các bức tường, về sự chênh lệch tránh mặt tiền đối xứng, về việc thi công các đường cong và hướng nghiêng với mức độ phức tạp tăng dần.




CÁC KẾT LUẬN SƯ PHẠM

Phân tích cụ thể trước đây về sự phát triển hình dạng mỹ thuật trong các bức vẽ của trẻ em sẽ chỉ là có hiệu quả trong trường hợp, nếu các kết luận của nó được ứng dụng rộng rãi. Phân tích này đã được chấp thuận chủ yếu theo hai lý lẽ. Thứ nhất, như đã thấy, không tồn tại một phản biện thuyết phục nào trước dữ kiện cho rằng, hình ảnh mỹ thuật là có thể hiểu được khi so sánh nó với đối tượng nhận thức hiện thực chủ nghĩa như một mô hình. Tôi đã cố gắng chỉ ra, bằng cách nào mà sự phát triển hình thức đang xảy ra trong khuôn khổ của chính những phương tiện tạo hình và tương ứng với điều kiện của những phương tiện này. Một sự giải thích sai lầm sẽ là điều không thể tránh khỏi, nếu xem xét một bức tranh giống như một bản sao chính xác ít hoặc nhiều của đối tượng nhận thức hay của một vật thay thế ngẫu nhiên, chứ không phải vật thay thế kết cấu của đối tượng này trong những phương tiện tạo hình đang có. Điều này là đúng đắn không những chỉ khi nói về một bức vẽ của trẻ thơ, mà còn khi nói về bất kỳ nghệ thuật nào, kể cả nghệ thuật theo chủ nghĩa hiện thực.




TẠO HÌNH SỰ VẬT TRÊN MỘT MẶT PHẲNG XÁC ĐỊNH

Hình ảnh của một vật thể có khối là giai đoạn cuối cùng trong sự phát triển khả năng mỹ thuật của một đứa trẻ, và nó không phải lúc nào cũng đạt được một cách tự phát. Để truyền đạt hình dạng tròn của một trái cầu hoặc một phép rút gọn đơn giản trong góc nhìn về một khuôn mặt quay nghiêng, đứa trẻ có thể sử dụng các loại bóng khác nhau. Sự tiến bộ rõ rệt trong việc phát triển khả năng mỹ thuật của đứa trẻ chỉ có thể được tìm thấy trong hình ảnh các vật thể hình học đơn giản, chẳng hạn như nhà cửa, hộp, bàn, bởi vì trong những trường hợp này, các đơn vị tạo hình, những thứ khác biệt nhau về định hướng không gian, sẽ thực sự khác nhau, cũng như các cạnh có hình chữ nhật.




CON NÒNG NỌC BỊ GỌI NHẦM TÊN

Trường hợp rõ ràng nhất của cách giải thích sai lầm về những bức vẽ của trẻ nhỏ là một ví dụ vẽ hình thù dạng nòng nọc, mà các học giả Pháp gọi là «hommes tetards»*, còn các nhà bác học Đức gọi là «Kopffiisler»**. Theo một quan điểm thông dụng, người ta cho rằng trong những bức vẽ này, hình ảnh phần thân bị buông bỏ hoàn toàn, và các tay bị lỗi khi dính trực tiếp vào đầu hoặc chân. Hình 137 và 138 là do các trẻ em bốn tuổi vẽ ra, cho thấy một số thực thể quái vật này. Để giải thích cho các bức vẽ, những giả thuyết khác nhau đã được đưa ra. Người ta cho rằng, đứa trẻ quên biểu hiện phần thân hoặc thậm chí «cố tình loại bỏ» nó khỏi bức vẽ của mình vì phép lịch sự. Nếu chúng ta ngắm kĩ tất cả điều này từ quan điểm phát triển gen, thì sẽ thấy cách giải thích đó không có bất cứ liên quan gì tới bản chất của sự việc, bởi vì thực ra hình ảnh phần thân cũng không bị mất hẳn trong các bức vẽ này.




KÍCH THƯỚC

Cũng giống như các yếu tố khác đã được chúng ta mổ xẻ, kích thước vẫn là một thứ chưa được vi phân từ những thời khắc ban đầu. Định luật vi phân buộc chúng ta phải chờ đợi rằng, những mối quan hệ giữa các kích thước được biểu hiện lúc đầu theo kết cấu bằng một con đường đơn giản nhất, có nghĩa, thông qua phương tiện đẳng thức. Thực tế mà nói, các đơn vị của một tình huống tạo hình được nhận thức là bằng nhau về kích thước, một khi còn chưa xuất hiện nhu cầu vi phân. Bởi vì nhớ được điều này, chúng ta sẽ không đặt ra một câu hỏi cũ rích: «Tại sao trong một số hình ảnh, những mối quan hệ của các kích thước là không tương ứng với thực tại?». Bù lại, chúng ta sẽ đặt vấn đề: «Điều gì đang kích thích trẻ em gán cho các đồ vật trong tranh vẽ của mình những kích thước khác nhau?». Nhận thức, theo một cách tương đối, ít phụ thuộc vào kích thước của các đối tượng. Hình dạng và định hướng của đối tượng không chịu tổn thất bởi thay đổi kích thước. Nếu nói theo ngôn ngữ của âm nhạc, đó chỉ đơn giản là «chuyển giọng». Đối với phần lớn người nghe, không có bất cứ sự khác biệt nào trong chuyện, một trích đoạn âm nhạc được chơi ở khoá nhạc nào, thì tương tự, sự thay đổi trực quan về kích thước vẫn là không được nhận thấy. Tính song song trực tiếp hơn có thể được phát hiện khi, các nhạc sỹ gọi đó là «tăng tông» hay «giảm tông», khi chủ đề vẫn là quen thuộc, thậm chí nếu «tốc độ tái tạo âm nhạc», có nghĩa kích thước thời gian của nó, đã thay đổi. Thông thưởng, chúng ta không nhận thức được sự thay đổi kích thước phối cảnh đều đặn trong các đối tượng của môi trường xung quanh. Bởi vì câu chuyện đang đề cập tới các hình mẫu, nên không ai quá quan tâm đến việc một bức ảnh có vẻ là quá nhỏ hay một bức tượng là quá khổng lồ. Trong phòng ở, một màn hình TV có vẻ là không lớn, nhưng, chỉ cần chú ý trong một thời lượng nào đó, thì nó sẽ trở thành một cái khung để tạo hình trong đó những con người và cao ốc «như thật».



1.618   Âm dương   Âm nhạc   AndréKertész   Ánh sáng   Ảo ảnh   B&W   Bè nhóm   Bố cục   Bóng đổ   Cái đẹp   Cái nhìn mù   Cân bằng   Cao trào   Chân dung   Chất liệu   Chụp mù   chút-chút   Chuyển động   Cơ thể sống   Color   Dấu hiệu   Diện mạo   Đối xứng   Dư thừa thông tin   Đường chéo   Đường dẫn   Expression   Fine art   Fotografiya_kak...   Hài hoà   HenriCartier-Bresson   Hình dạng   Hình thù   Hình thức   Hình tượng   Hội hoạ   Karl Bryullov   Kết cấu   KhoảnhKhắcQuyếtĐịnh   Không gian   Không gian âm   Không gian ảnh   Kiếp luân hồi   Lapin   Lee Miller   Leica   Liên kết   Liên tưởng   Lomo   Lưu niệm   Mặt phẳng ảnh   Mặt phẳng bẹt   Màu sắc   Miller   Miuka   Năng khiếu   Não bộ   Ngẫu nhiên   Nhận biết   Nhận thức   Nhịp điệu   Nội dung   Nóng và lạnh   Overlapping   Phân tích ảnh   Phát triển   Phát triển   Phối cảnh   Phông nền   Phóng sự   Phục hưng   Phylosophy   Psychology   Rangefinder   Raphael   Repin   Rê-pin   Rudolf Arnheim   RudolfArnheim   Sắc đẹp   Sắc độ   Sân khấu   Sành điệu   Sắp xếp   SevenPlusMinusTwo   Sống-Chết   Sự kiện   SusanSontag   Tam giác   Tâm lý   Tâm tưởng   Thể loại   Thị giác   Thơ ca   Thoát xác   Thống nhất   Thông tin   Tính đơn thời   Tình huống   Tính ngẫu nhiên   Tinh tế   Tính trong suốt   Tính tư liệu   Toàn vẹn   Tổng quát   Trí huệ   Trí nhớ   Trời và đất   Trọng âm   Truyền thông   Tư duy   Tương cỡ   Tương tác   Tưởng tượng   Tương tỷ   Tỷ lệ   Tỷ lệ vàng   Uyển chuyển   Vần điệu   Vô hình   Werner Bischof   Ý thức  

Page 1 of 2