Từ cổ chí kim chưa từng có tiền lệ về một người có khả năng sáng tạo trước khi anh ta được học về nghệ thuật. Thiếu sự bất ngờ khách quan, một trò chơi chủ quan sẽ biến tướng thành một trò hề nhạt nhẽo, thứ không gây ngạc nhiên và không thể gây ngạc nhiên. Thủ pháp khác với thủ đoạn ở chỗ, cái thứ hai có thể bị vạch trần, còn cái thứ nhất thì không. Nghệ sỹ, ai cũng muốn làm nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật là cái quái gì? Chỉ cần đúng ba từ thôi: «gây ngạc nhiên», nhưng cần thêm vào hai chữ nữa — «vô thức». Nhưng trước khi gây ngạc nhiên trong vô thức, nghệ sỹ phải biết tự ngạc nhiên có ý thức.
MiukaFoto 
(born in 1972)


DIỆN MẠO ¹

Tôi nhìn vào đồ vật. Tôi thấy thế giới xung quanh tôi. Biểu ngữ này ám chỉ cho điều gì? Trong cuộc sống thường nhật, quan sát, hay nhãn quan, là, theo bản chất, — phương tiện định hướng thực tế. Có nghĩa, mắt người định hình những đồ vật nào đó đang nằm trong một vị trí nào đó. Đó là một sự thừa nhận dựa vào những dấu hiệu không đáng kể. Anh chồng chui vào chăn ngủ trong đêm tối. Anh ta nhận ra một mảng tối trên nền chiếc gối trắng. Trong ý nghĩa này, anh ta «nhìn thấy» rằng, cô vợ đang nằm tại vị trí quen thuộc của mình. Khi có ánh sáng tốt hơn, tất nhiên, anh ta cũng sẽ nhận ra nhiều hơn, nhưng về nguyên tắc, để định hướng chỉ cần đúng một lượng tối thiểu của gợi ý và các kích thích thị giác.




QUÝ BÀ CÉZANNE TRÊN CHIẾC GHẾ MÀU VÀNG

Sau khi cung cấp những tư liệu lý thuyết dài dòng, tôi thiết nghĩ, cần đưa ra một dẫn chứng cụ thể để bảo vệ phương pháp của mình. Tôi đã cố ý chọn bức tranh này, thoạt tiên nhìn có vẻ đơn giản, đẹp đẽ, nhưng, rất có thể, nhạt nhẽo, — một tác phẩm, mà các khán giả thường không bỏ ra nhiều thời gian để ngắm nhìn nó trong các bảo tàng nghệ thuật. Để lột tả được sự giàu có thẩm mỹ của tuyệt tác này, phân tích của tôi buộc phải là rất chi tiết.




CÂN BẰNG VÀ LÝ TRÍ

Cho đến thời điểm này, tôi đã mô tả sự cân bằng như một phương tiện để loại bỏ sự bất định và triệt tiêu sự rời rạc của mô hình thị giác, có nghĩa như một phương tiện tối cần thiết, cho phép hiểu được một hình ảnh mỹ thuật. Đó không hoàn toàn là một quyết định rẻ rúm, bởi vì một sự diễn giải phổ biến hơn của vấn đề này nằm ở chỗ, hoạ sỹ cố gắng đạt được sự cân bằng trong một tác phẩm nghệ thuật là để — thoả mãn chính mình. Vậy thì tại sao sự cân bằng mỹ thuật lại là nhu cầu bản năng? Bởi vì nó kêu gọi sự đáp ứng để có được cảm giác dễ chịu, đó là khảng định của chủ nghĩa khoái lạc, thứ sẽ xác định động lực của con người như một bước cố gắng tiến tới sự hoan hỉ và tiết chế các cảm xúc khó chịu. Ngày nay có một điều đã trở thành hiển nhiên, học thuyết thần thánh muôn thuở về sự cân bằng là đúng đắn, nhưng lại là — vô ích. Nó giải thích cho tất cả mọi thứ, nhưng đồng thời, — chẳng giải thích cho thứ gì cả, vậy khi đó chúng ta cần biết, tại sao một tình huống xác hoặc một hoạt động nào đó lại tạo ra cảm giác hân hoan.




TRÁI VÀ PHẢI

Một vấn đề khó khăn sẽ xuất hiện liên quan tới sự bất đối xứng của bên trái và bên phải. Tôi sẽ đụng chạm tới vấn đề này chỉ trong phạm trù cân bằng thị giác tâm lý. Một nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, Heinrich Wölfflin, đã hướng sự chú ý tới một dữ kiện, khi bức tranh được đối ảnh trong gương, thì không những hình thức bề ngoài bị thay đổi, mà ý nghĩa của bức tranh cũng bị mất đi. Wölfflin cho rằng, điều đó xảy ra do thói quen «đọc» tranh từ trái qua phải, còn khi đảo ngược thứ tự, nhận thức về nó cũng bị thay đổi. Wölfflin nhận thấy, hướng của đường chéo đi từ góc dưới bên trái tới góc trên bên phải được nhận thức như là thịnh vượng, thu nạp đỉnh cao, trong khi hướng của đường chéo còn lại là giảm suy. Một vật ảnh bất kỳ sẽ có vẻ nặng hơn nếu nó nằm bên phải trong bức tranh. Chẳng hạn, nếu nhân hình của thầy tu trong bức tranh của Raphael «The Sistine Madonna», chúng ta lật ảnh bên trái sang bên phải theo kiểu đảo chiều, thì nhân hình này sẽ trở thành quá nặng, đến nỗi tác phẩm trong tổng thể sẽ bị lộn tùng phèo (hình 16).




TRÊN VÀ DƯỚI

Như đã thấy, phần bên dưới của một mô hình nhận thức thị giá đòi hỏi một trọng lượng lớn hơn. Có thể có hai con đường: hoặc gán cho phần dưới một trọng lượng đủ lớn để toàn bộ mô hình vỏ vẻ cân bằng, hoặc gán cho nó một trọng lượng nhảy vọt, để chân đế nhìn nặng hơn nhiều so với phần trên. Herbert Sidney Langfeld nói: «Nếu đề nghị ai đó, không được dùng bất kì phép đo nào để chia một đoạn thẳng đứng ra làm đôi, thì điểm chia của anh ta kiểu gì cũng cao hơn điểm chính giữa. Nếu đoạn thẳng này được chia đôi một cách chính xác, thì rất khó có thể hình dung, rằng nửa trên không dài hơn nửa dưới»¹. Trong trường hợp này, sự nở kích thước của nửa dưới hoạt động đơn giản như một sự bù trừ. Nhờ có sự bù trừ này, có thể ép buộc hai nửa nhìn có vẻ bằng nhau.




HƯỚNG

Hướng, cũng giống như trọng lượng, ảnh hưởng tới sự cân bằng. Tương tự như trọng lượng, vị trí của nguyên tố tạo hình ảnh hưởng trực tiếp tới nhận thức về hướng. Trọng lượng của bất kỳ nguyên tố bố cục nào, dù nó có là một phần của kế hoạch kết cấu ẩn diện hay của đối tượng lộ diện, đều hút tất cả các đồ vật hàng xóm láng giềng, và bằng cách đó tạo cho chúng một hướng xác định. Tôi đã chỉ ra sự hấp dẫn hướng tâm của cái đĩa về phía điểm giữa của hình vuông. Trong minh hoạ số 11, con ngựa được nhận thức là được vẽ vào chiều sâu của không gian, bởi vì, sự chú ý của chúng ta bị kỵ sỹ lôi cuốn.




DƯỚI HẦM MỘ PLATO

Loài người vẫn quanh quẩn cư trú dưới hang động Plato và theo một thói quen bao thế kỷ vẫn chỉ thích thú với những bóng đổ, hình ảnh của sự thật chân lý. Nhưng nhiếp ảnh dạy chúng ta theo một cách khác, không giống như những hình ảnh nhân tạo hơn và cổ xưa hơn. Thứ nhất, những hình ảnh tiềm ẩn sự chú ý của chúng ta, giờ đây đã có nhiều hơn hẳn. Kê thức của nhiếp ảnh đã ra đời vào năm 1839, và từ đó trở đi, hầu như tất cả mọi thứ, có lẽ, đều có thể được chụp. Chính thói tham lam của con mắt nhiếp ảnh này đang làm thay đổi các điều kiện giam giữ trong hang động — biến nó trở thành thế giới của chúng ta. Đào tạo chúng ta bằng một bộ luật thị giác mới mẻ, các bức ảnh đang chuyển đổi và mở mang hình dung của chúng ta về những thứ mà nên nhìn trực tiếp và đáng nhẽ chúng ta có quyền quan sát tường tận. Chúng — là ngữ pháp và, điều quan trọng hơn nữa, luân lý của nhãn sinh quan. Và, cuối cùng, kết quả hùng tráng nhất của hoạt động nhiếp ảnh: nó cho chúng ta cảm giác, rằng chúng ta có thể chứa được trong đầu toàn bộ thế giới — như một tuyển tập của hình ảnh.



1.618   Âm dương   Âm nhạc   AndréKertész   Ánh sáng   Ảo ảnh   B&W   Bè nhóm   Bố cục   Bóng đổ   Cái đẹp   Cái nhìn mù   Cân bằng   Cao trào   Chân dung   Chất liệu   Chụp mù   chút-chút   Chuyển động   Cơ thể sống   Dấu hiệu   Diện mạo   Đối xứng   Dư thừa thông tin   Đường chéo   Đường dẫn   Fine art   Fotografiya_kak...   Hài hoà   HenriCartier-Bresson   Hình dạng   Hình thù   Hình thức   Hình tượng   Hội hoạ   Karl Bryullov   Kết cấu   KhoảnhKhắcQuyếtĐịnh   Không gian   Không gian âm   Không gian ảnh   Kiếp luân hồi   Lapin   Lee Miller   Leica   Liên kết   Liên tưởng   Lomo   Lưu niệm   Mặt phẳng ảnh   Mặt phẳng bẹt   Màu sắc   Miller   Miuka   Năng khiếu   Não bộ   Ngẫu nhiên   Nhận biết   Nhận thức   Nhịp điệu   Nội dung   Nóng và lạnh   Phân tích ảnh   Phối cảnh   Phông nền   Phóng sự   Phục hưng   Phylosophy   Psychology   Rangefinder   Raphael   Repin   Rê-pin   Rudolf Arnheim   RudolfArnheim   Sắc đẹp   Sắc độ   Sân khấu   Sành điệu   Sắp xếp   SevenPlusMinusTwo   Sống-Chết   Sự kiện   SusanSontag   Tam giác   Tâm lý   Tâm tưởng   Thể loại   Thị giác   Thơ ca   Thoát xác   Thống nhất   Thông tin   Tính đơn thời   Tình huống   Tính ngẫu nhiên   Tinh tế   Tính trong suốt   Tính tư liệu   Toàn vẹn   Tổng quát   Trí huệ   Trí nhớ   Trời và đất   Trọng âm   Truyền thông   Tư duy   Tương cỡ   Tương tác   Tưởng tượng   Tương tỷ   Tỷ lệ   Tỷ lệ vàng   Uyển chuyển   Vần điệu   Vô hình   Werner Bischof   Ý thức  

Page 1 of 14