Ở nơi nào có sự ước lệ, ở đó tồn tại một không gian cho sáng tạo và nghệ thuật.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)


GỜ RA ĐIÊN

Độ nghiêng xiên, như chúng ta đã biết, tạo ra chiều sâu khi nó được nhận thức như sự sai lệch khỏi khung khuôn ngang dọc, bởi vì sự căng thẳng có thể được loại bỏ và sự đơn giản sẽ tăng lên khi độ nghiêng xiên được duỗi thẳng vào chiều thứ ba. Bước tiếp theo, chúng ta cần coi sự nghiêng xiên này như một trường hợp đặc biệt của một đặc tính tri giác rộng hơn, bằng cách khảng định rằng, sự nghiêng xiên sẽ tạo ra chiều sâu bởi vì đó chính là gradient. Khi liên tưởng một đối tượng nghiêng về mặt thị giác với các toạ độ tiêu chuẩn (hình 204a) chúng ta nhận thấy rằng, khoảng cách từ trục đứng hay trục ngang tới các cạnh tăng lên dần dần. Nếu nguyên tắc hội tụ có hiệu lực, chẳng hạn, trong phối cảnh trung tâm có thêm một gradient về kích thước, thì một sự thon vào từ hình dạng rộng hơn tới hình dạng hẹp hơn, sẽ nhận được trong chính hình thù (hình 204b).




KINH NGHIỆM QUÁ KHỨ VÀ CẢM GIÁC MÔ CƠ

Tại sao tôi lại thấy mặt bàn làm việc của tôi như một hình chữ nhật, thậm chí nếu các biểu trưng hình chiếu từ nó trong mắt tôi là các dạng thức khác nhau của hình thang? Thông thường thì cần trả lời rằng, tôi biết được theo kinh nghiệm quá khứ, hình dạng như thế nào có ở một cái mặt bàn trong thực tế. Lợi ích nào cho một giải thích như vậy?




TÍNH BẤT HOÀN TÁC CỦA KHÔNG GIAN BA CHIỀU

Chúng ta vừa xem xét chỉ hai khía cạnh của tình huống không gian: hình chiếu hai chiều trên mặt phẳng chính diện và định hướng ba chiều — nơi đối tượng của nhận thức đạt được hình dạng đơn giản nhất về mặt thị giác. Tuy nhiên trong thực tiễn khó mà có thể hoàn toàn loại bỏ được các biến dạng. Sự bù trừ kích thước khi đề cập tới các cột trụ hay các pho tượng đã dường như là không cần thiết, nếu con mắt của chủ thể nhận thức chúng có thể biết điều chỉnh các biến dạng phối cảnh một cách hoàn hảo.




SỰ ĐƠN GIẢN, CHỨ KHÔNG PHẢI GIỐNG THẬT

Các mô hình có dạng giống như được giới thiệu trong hình 163, có thể nhận được bằng cách chụp ảnh một hình vuông hay một khối lập phương qua một góc nghiêng. Trong phương án nổi khối, những mô hình này rất thường có hình dạng của các vật thể vật lý — những vật thể có hình chiếu chính là các mô hình đó. Hiện tượng này đã kích thích các nhà tâm lý học đúc kết ra một quy luật sau đây.




MÔ HÌNH CỦA KHU VỰC THỊ GIÁC NÃO

Cho đến lúc này, tôi đã sử dụng khái niệm mô hình chính diện (hai chiều) như một cơ sở. Tôi đã cố gắng trả lời cho câu hỏi, những tính chất nào cần có ở một mô hình sao cho có thể nhận thức được khuynh hướng tiến tới thế nghiêng trong không gian ba chiều. Phương pháp này dùng để xác định, những nét đa dạng nào của các hình thù tạo hình trong một bức vẽ hay một bức tranh tạo nên hiệu ứng đó. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu đề xuất rằng, trong các quá trình tâm sinh lý của nhận thức, một mô hình hai chiều cũng có sự ưu tiên tương tự. Và dù sao đi nữa điều này vẫn luôn được làm ra rất thường xuyên vì một lý do sau đây. Không phụ thuộc vào việc, vật thể có là nổi khối hay phẳng bẹt về mặt vật lý hay không, chúng nằm vuông góc hay nghiêng góc, khi chúng ta nhìn vào nó, nhận thức luôn dựa trên các biểu trưng thị giác của đối tượng này, được chiếu hình lên võng mạc nhờ thuỷ tinh thể. Võng mạc là một bề mặt hai chiều, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng không phải là mặt phẳng nằm ngang, bởi vì nó là một phần của bề mặt bên trong của nhãn cầu và, suy ra, bề mặt của nó mang tính cách mặt cầu, chứ không phải phẳng.




ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN DẠNG ĐẾN NHẬN THỨC KHÔNG GIAN

Chiều sâu được nhận thức bởi con mắt không những thông qua sự che lấp nhau của các hình thù. Các đối tượng, kể cả khi không có sự che lấp nhau, cũng có vẻ như là nổi khối và có một chút hơi hướng chiều sâu. Trong những điều kiện nào và tại sao điều đó diễn ra?




TRUYỀN TẢI CHIỀU SÂU BẰNG PHƯƠNG TIỆN OVERLAPPING

Các quy luật của hiện tượng «hình—phông» liên quan đến hình thức giới hạn của các quan hệ tương giao không gian giữa các mặt phẳng chính diện. Ở đây cần mổ xẻ vấn đề cụ thể hơn. Ở hình 179 chúng ta nhận thấy trước hết là các cấp độ chia nhóm đa dạng trong khuôn khổ một và chỉ một mặt phẳng hai chiều. Phân bố đơn giản của một hình vuông và một hình tròn trong phương án 179a sẽ tạo ra một mô hình trọn vẹn độc nhất. Tâm của hình tròn trùng với tâm của hình vuông, còn đường kính của hình tròn bằng cạnh của hình vuông. Sự tách nhóm mạnh nhất là hình 179е. Tính tách biệt toàn năng của mô hình 179e có khả năng tự do đánh giá hai phần, các phần này không giao cắt nhau và mỗi phần đều tự đối xứng so với chính mình. Các ví dụ về sự chồng chéo của mỗi phần với nhau là 179 b, с, d. Trong cả ba hình này đâu đó có xu hướng làm yếu hoặc, có thể, thậm chí phá hủy sự thống nhất của tổng thể do bố cục bị dỡ thành hai phần. Tuy nhiên có thể thấy rằng, trong các ví dụ này xu hướng đang nói được nhận ra yếu nhất ở hình 179с, bởi vì tâm của đường tròn nằm trên đường chéo của hình vuông và trùng với một trong các đỉnh của nó. Thời điểm này tạo ra sự đối xứng so với các đường chéo của hình vuông và tăng cường sự thống nhất của toàn bộ bố cục trong tổng thể.



1.618   Âm dương   Âm nhạc   AndréKertész   Ánh sáng   Ảo ảnh   B&W   Bè nhóm   Bố cục   Bóng đổ   Cái đẹp   Cái nhìn mù   Cân bằng   Cao trào   Chân dung   Chất liệu   Chụp mù   chút-chút   Chuyển động   Cơ thể sống   Dấu hiệu   Diện mạo   Đối xứng   Dư thừa thông tin   Đường chéo   Đường dẫn   Fine art   Fotografiya_kak...   Hài hoà   HenriCartier-Bresson   Hình dạng   Hình thù   Hình thức   Hình tượng   Hội hoạ   Karl Bryullov   Kết cấu   KhoảnhKhắcQuyếtĐịnh   Không gian   Không gian âm   Không gian ảnh   Kiếp luân hồi   Lapin   Lee Miller   Leica   Liên kết   Liên tưởng   Lomo   Lưu niệm   Mặt phẳng ảnh   Mặt phẳng bẹt   Màu sắc   Miller   Miuka   Năng khiếu   Não bộ   Ngẫu nhiên   Nhận biết   Nhận thức   Nhịp điệu   Nội dung   Nóng và lạnh   Overlapping   Phân tích ảnh   Phát triển   Phát triển   Phối cảnh   Phông nền   Phóng sự   Phục hưng   Phylosophy   Psychology   Rangefinder   Raphael   Repin   Rê-pin   Rudolf Arnheim   RudolfArnheim   Sắc đẹp   Sắc độ   Sân khấu   Sành điệu   Sắp xếp   SevenPlusMinusTwo   Sống-Chết   Sự kiện   SusanSontag   Tam giác   Tâm lý   Tâm tưởng   Thể loại   Thị giác   Thơ ca   Thoát xác   Thống nhất   Thông tin   Tính đơn thời   Tình huống   Tính ngẫu nhiên   Tinh tế   Tính trong suốt   Tính tư liệu   Toàn vẹn   Tổng quát   Trí huệ   Trí nhớ   Trời và đất   Trọng âm   Truyền thông   Tư duy   Tương cỡ   Tương tác   Tưởng tượng   Tương tỷ   Tỷ lệ   Tỷ lệ vàng   Uyển chuyển   Vần điệu   Vô hình   Werner Bischof   Ý thức  

Page 1 of 6