Ở nơi nào có sự ước lệ, ở đó tồn tại một không gian cho sáng tạo và nghệ thuật.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

BIỂU HIỆN ĐƠN GIẢN HOÁ

Theo quy luật cơ bản của nhận thức thị giác, bất kỳ mô hình kích thích nào cũng có xu hướng được nhìn thấy theo cách mà cấu trúc kết quả là đơn giản nhất mà các điều kiện đưa ra cho phép. Xu hướng này sẽ ít rõ ràng hơn khi kích thích quá mạnh đến mức nó gây ra sự kiểm soát không thể đỡ được. Trong những điều kiện như vậy, cơ chế thụ cảm chỉ tự do sắp xếp các phần tử đã cho theo cách đơn giản nhất có thể. Khi kích thích yếu, sức mạnh tổ chức của tri giác có thể tự khẳng định mình đầy đủ hơn. Theo Lucretius, "khi đủ xa, nếu chúng ta nhìn tới các tòa tháp vuông vắn của một thành phố, chúng thường có vẻ như hình tròn", và Leonardo da Vinci nhận xét rằng khi nhìn thấy bóng dáng của một người đàn ông từ xa, "anh ta sẽ có vẻ là một cơ thể rất nhỏ, tối, dạng tròn. Anh ta sẽ xuất hiện ở dạng tròn trịa bởi vì khoảng cách làm giảm các bộ phận của cơ thể đến mức không để lại gì có thể nhìn thấy, ngoại trừ chính hình khối lớn hơn đó". Tại sao sự giảm nhỏ buộc người quan sát nhìn thấy một hình dạng tròn? Câu trả lời là khoảng cách làm suy yếu kích thích đến mức cơ chế tri giác được tự do áp đặt lên nó hình dạng đơn giản nhất có thể — cụ thể là hình tròn. Sự suy yếu như vậy của kích thích cũng xảy ra trong các điều kiện khác, ví dụ, khi mô hình cảm nhận được chiếu sáng mờ hoặc chỉ lộ ra trong một tích tắc. Khoảng cách trong thời gian có ảnh hưởng tương tự như khoảng cách trong không gian; khi kích thích thực sự đã biến mất, dấu vết trí nhớ còn lại sẽ yếu đi.

Các nhà thử nghiệm đã nghiên cứu tác động của các kích thích suy yếu lên nhận thức. Các kết quả của những thử nghiệm này có thể khó hiểu và thậm chí mâu thuẫn. Ngay từ đầu, người thử nghiệm không thể truy cập trực tiếp vào các khái niệm và dấu vết bộ nhớ. Chúng phải do người quan sát truyền đạt cho người thử nghiệm theo một cách gián tiếp nào đó. Người quan sát mô tả bằng lời, vẽ hoặc chọn từ một số mẫu giống nhất với hình mà họ nhìn thấy. Không có phương pháp nào trong số này là ổn, vì không thể nói bao nhiêu phần kết quả là do kinh nghiệm của bản thân và bao nhiêu phần là do phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, đối với mục đích của chúng ta, sự khác biệt này không phải là điều cần thiết.

Khi xem xét các bản vẽ do các quan sát viên thực hiện, người ta phải tính đến khả năng kỹ thuật cũng như các tiêu chuẩn cá nhân về độ chính xác của họ. Một người có thể coi một bức tranh nguệch ngoạc khá bất thường là một hình ảnh đủ chính xác của hình thức đã được ghi nhớ, trong trường hợp đó, các chi tiết của bản vẽ của người không thể được hiểu theo nghĩa đen. Nếu không dự trù một số sai lệch nào đó giữa bản vẽ thực tế và hình ảnh dự định phải đưa ra, việc giải thích kết quả sẽ dẫn đến nhầm lẫn. Hơn nữa, nhận thức và ghi nhớ một mẫu không phải là một quá trình cô lập. Nó phụ thuộc vào ảnh hưởng của vô số dấu vết trí nhớ có khả năng hoạt động trong tâm trí người quan sát. Trong những điều kiện này, chúng ta không thể mong đợi biểu hiện rõ rệt của những khuynh hướng cơ bản trong mọi trường hợp. Do đó, tốt nhất là giải thích dựa trên các ví dụ minh họa một số hiệu ứng sắc nét.

Theo truyền thống, người ta cho rằng theo thời gian, dấu vết ký ức sẽ dần mất đi. Chúng tan biến, trở nên kém khác biệt hơn, và bỏ đi các đặc điểm cá nhân, do đó trông càng ngày càng giống cái gọi là vừa tất cả vừa không gì cả. Điều này dẫn đến việc mất dần cấu trúc thành phần. Sau đó các nhà điều tra đã đặt ra câu hỏi: liệu quá trình này có liên quan đến những chuyển đổi có thể nhận ra hơn từ dạng cấu trúc này sang dạng cấu trúc khác hay không, những thay đổi có thể được mô tả bằng các thuật ngữ cụ thể. Thật vậy, những thay đổi đó đã được xác định..

Hình 38

Như một minh chứng đơn giản, hình 38 được hiển thị trong tích tắc cho một nhóm người trước đó đã được yêu cầu chuẩn bị sẵn giấy và bút chì, đồng thời vẽ mà không cần nghĩ ngợi nhiều nhưng càng chính xác càng tốt những gì họ đã thấy. Các ví dụ trong hình 39 minh họa bằng sơ đồ loại kết quả thường thu được.

Hình 39*
*: Các hàng từ trên xuống dưới:
Tăng cường đối xứng
Bóc tách chi tiết «thừa»
Hình dạng chung được đơn giản hoá
Hướng tới hình thức khép kín
Lặp lại một đường nét nào đó
Tăng cường chia phần
Chuyển đổi từ xiên sang thẳng đứng

Các mẫu thử đưa ra ý tưởng về sự đa dạng ấn tượng của các phản ứng, một phần là do sự khác biệt của từng cá nhân và một phần do các yếu tố như sự khác biệt về thời gian hiện ảnh và khoảng cách của người quan sát. Tất cả các mẫu thử này đại diện cho sự đơn giản hóa của mô hình kích thích. Người ta ngưỡng mộ sự khéo léo của các giải pháp, sức mạnh tưởng tượng của tầm nhìn, nó tự bộc lộ mặc dù các bản vẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, tự phát và không có sự bịa đặt nào khác ngoài việc ghi lại một cách trung thực những gì đã thấy. Một số khía cạnh của các hình thù có thể là cách diễn giải bằng hình ảnh của tri giác chứ không phải là các thuộc tính của bản thân tri giác. Tuy nhiên, một thực nghiệm như vậy vẫn cung cấp đầy đủ bằng chứng cho thấy việc nhìn thấy và ghi nhớ có liên quan đến việc tạo ra các tổng thể có tổ chức.

SỰ SAN BẰNG VÀ RÀNH MẠCH HOÁ

Mặc dù các quan sát viên cho thấy trong bản vẽ của họ (hình 39) có xu hướng giảm số lượng các đặc điểm cấu trúc và do đó để đơn giản hóa mô hình, các xu hướng khác cũng đang hoạt động. Ví dụ: hình vẽ thứ tư trong hàng "Tăng cường phân nhóm" (Subdivision enhanced) phức tạp hơn mô hình ở chỗ nó phá vỡ đường ngang trung tâm và do đó tăng cường tính năng động của mô hình thay vì giảm đi. Phản ứng ngược này tự thể hiện rõ ràng hơn trong các thực nghiệm do Friedrich Wulf thực hiện lần đầu tiên. Ông đã sử dụng các hình thù có sự mơ hồ nhỏ, chẳng hạn như hình 40a và d. Hai cánh của a gần như không đối xứng, và hình chữ nhật nhỏ ở d lệch tâm đôi chút. Khi các hình như vậy được trình bày trong các điều kiện giữ sao cho cho việc kiểm soát kích thích đủ yếu để khiến các quan sát viên có một biên độ tự do, thì sẽ có hai loại phản ứng chính xảy ra. Khi thực hiện các bản vẽ về những gì họ đã thấy, một số người đã hoàn thiện tính đối xứng của mô hình (b, e) và do đó làm tăng tính đơn giản của nó; họ làm giảm số lượng các tính năng cấu trúc. Những người khác phóng đại sự bất đối xứng (c, f). Họ cũng đơn giản hóa mô hình, nhưng theo cách ngược lại. Thay vì giảm số lượng các đặc điểm cấu trúc, họ phân biệt các đặc điểm đã cho rõ ràng hơn với nhau. Bằng cách loại bỏ sự mơ hồ, họ chắc chắn cũng làm cho nhiệm vụ của người xem đơn giản hơn.

Hình 40

Cả hai khuynh hướng, "san bằng" và "mạch lạc", đều là những ứng dụng của một khuynh hướng cao cấp hơn, cụ thể là, làm cho cấu trúc tri giác càng rõ ràng càng tốt. Các nhà tâm lý học Gestalt đã gọi khuynh hướng này là "the law of Prägnanz" (định luật Prägnanz), và tiếc là đã không phân biệt nó một cách đầy đủ với xu hướng hướng tới cấu trúc đơn giản nhất. Để làm phức tạp thêm sự nhầm lẫn, một số dịch giả đã chuyển nghĩa tiếng Đức Prägnanz sang tiếng Anh là thai nghén (pregnance), có nghĩa là gần như ngược lại.

Sự san bằng được đặc trưng bởi các biện pháp như thống nhất, tăng cường tính đối xứng, giảm các đặc điểm cấu trúc, lặp lại, giảm sự không phù hợp chi tiết, loại bỏ độ xiên. Sự rành mạch hoá tăng cường sự khác biệt, độ xiên căng thẳng. Sự san bằng và rành mạch hoá thường xuyên xảy ra trong cùng một bản vẽ, giống như trong trí nhớ của một người, những thứ lớn có thể được tái hiện như những thứ lớn hơn, những thứ nhỏ như nhỏ hơn nữa, so với thực tế, nhưng đồng thời, toàn bộ tình huống có thể tồn tại trong một hình thức đơn giản hơn, trật tự hơn.

Hiển nhiên là việc san bằng và rành mạch hoá không chỉ khác nhau về hình dạng mà chúng tạo ra, mà còn ở ảnh hưởng của chúng đến động lực học. Sự san bằng cũng liên quan đến việc giảm bớt sự căng thẳng vốn có trong mô hình trực quan. Còn sự rành mạch hoá làm tăng độ căng thẳng đó. Điều này sẽ được thấy rõ từ các ví dụ trong hình 40. Ở đây, các nhà sử học nghệ thuật sẽ được nhắc nhở về sự khác biệt giữa phong cách cổ điển (classicism) và phong cách biểu hiện (expressionistism). Chủ nghĩa cổ điển hướng tới sự đơn giản, đối xứng, chuẩn mực và giảm bớt căng thẳng. Chủ nghĩa biểu hiện đề cao sự hiếm gặp, không đối xứng, bất thường và phức tạp, đồng thời phấn đấu để gia tăng sự căng thẳng. Hai loại phong cách biểu thị hai khuynh hướng mà sự tác động lẫn nhau của chúng, theo tỷ lệ khác nhau, tạo nên cấu trúc của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật thị giác nào và thực sự của bất kỳ mẫu hình ảnh nào. Điều này sẽ được nói đến kỹ hơn.

TỔNG THỂ TỰ DUY TRÌ

Có vẻ như những thứ chúng ta thấy luôn hành xử như những tổng thể. Một mặt, những gì được nhìn thấy trong một khu vực cụ thể của trường thị giác phụ thuộc mạnh mẽ vào vị trí của nó và chức năng trong bối cảnh tổng thể. Mặt khác, cấu trúc của tổng thể có thể được sửa đổi bởi những thay đổi cục bộ. Sự tác động lẫn nhau này giữa tổng thể và một phần cục bộ không phải là tự động và phổ biến. Một phần cục bộ có thể bị ảnh hưởng đáng kể bởi một sự thay đổi trong cấu trúc tổng thể hoặc không; và sự thay đổi về hình dạng hoặc màu sắc có thể ít ảnh hưởng đến tổng thể khi sự thay đổi đó nằm ngoài cấu trúc đang được theo dõi. Tất cả những điều này là các khía cạnh của một thực tế rằng: bất kỳ trường hình ảnh nào cũng hoạt động như một "gestalt"**.

** Gestalt (tiếng Đức, thuật ngữ tâm lý học): một tổng thể có tổ chức được coi là nhiều hơn tổng các bộ phận của nó.

Điều này không nhất thiết đúng đối với các đối tượng vật lý đóng vai trò là tác nhân kích thích thị giác. Một thể nước là một "gestalt" vì những gì xảy ra ở một nơi có ảnh hưởng đến tổng thể. Nhưng một tảng đá thì không, và ở vùng nông thôn, cây cối, mây trời và nước chỉ tương tác trong giới hạn của những ràng buộc nghiêm khắc. Hơn nữa, bất kỳ tương tác vật lý nào xảy ra trong thế giới mà chúng ta nhìn thấy không nhất thiết phải có đối tác trực quan. Một bộ tản nhiệt điện có tác dụng mạnh nhưng không thể nhìn thấy được đối với một cây vĩ cầm gần đó, trong khi một khuôn mặt người nhợt nhạt trông có vẻ xanh lục đối lập với một chiếc váy đỏ liền kề sẽ bị ảnh hưởng từ một hiệu ứng tri giác mà không có đối tác vật lý.

Phần thân Madonna bằng đá cẩm thạch của Michelangelo không hề hấn gì khi một người đàn ông loạn trí đánh gãy một trong hai cánh tay của cô bằng một cái búa; sắc tố màu trên vải vẽ cũng không trải qua bất kỳ thay đổi vật lý nào khi một nửa bức tranh bị cắt bỏ. Những tương tác mà chúng ta quan sát được bằng mắt thường phải xuất phát từ các quá trình trong hệ thần kinh. Kiến trúc sư Eduardo Torroja quan sát thấy: "Tổng tầm nhìn vào một đường thẳng, một đường cong hoặc một khối bị ảnh hưởng bởi các đường và mặt phẳng xung quanh khác. Vì vậy, ví dụ, đường thẳng của thanh giằng của một vòm phẳng có thể xuất hiện dưới dạng một đường cong, có độ lồi đối lập với độ lồi của vòm (the straight line of the tie member of a flattened arch may appear as a curve, whose convexity is opposite to that of the arch). Một hình chữ nhật đặt trong một vòm cung nhọn (ogive) có hình dạng bị biến dạng".

Trước đây, tôi đã gợi ý rằng các tương tác trong trường thị giác được điều khiển bởi quy luật đơn giản, điều này khẳng định rằng các các lực tri giác cấu thành một trường như vậy sẽ tự tổ chức theo mô hình đơn giản nhất, thông thường nhất, đối xứng nhất, có sẵn trong các hoàn cảnh. Mức độ mà qui luật này có thể được áp dụng trong từng trường hợp tùy thuộc vào các ràng buộc phổ biến trong hệ thống. Miễn là một mô hình kích thích rõ ràng được chiếu trên võng mạc của mắt, tổ chức tri giác phải chấp nhận hình dạng đã cho này; nó phải tự giới hạn trong việc hợp nhóm hoặc chia nhỏ hình dạng hiện có theo cách mà cấu trúc đơn giản nhất có thể cho kết quả. Như hình 38 và 39 đã chỉ ra, sự đơn giản hóa tiếp theo sẽ trở thành khả thi khi tác động của kích thích đầu vào bị suy yếu do tiếp xúc ngắn, ánh sáng mờ hoặc một số điều kiện tương tự.

Trong trải nghiệm trực quan chúng ta chỉ quan sát được kết quả của quá trình tổ chức này. Nguyên nhân của nó phải được tìm kiếm trong hệ thống thần kinh. Gần như không có gì được biết đến về bản chất chính xác của tổ chức sinh lý như vậy. Bằng cách suy luận từ những gì xảy ra trong tầm nhìn, người ta có thể nói rằng tổ chức đó phải liên quan đến các quá trình có tính hiện trường. Wolfgang Kohler đã chỉ ra rằng các quá trình hiện trường (field processes) thường xuyên được quan sát trong vật lý và do đó cũng có thể xảy ra trong não, vì hệ thần kinh thuộc về thế giới vật chất. «Như một ví dụ quen thuộc» — Kohler viết, — «lấy sự phân bố tĩnh của dòng nước trong một mạng lưới các đường ống. Bằng cách ảnh hưởng lẫn nhau trong toàn bộ hệ thống, quá trình mở rộng đó tự bảo trì mình như một tổng thể».

Ba ví dụ sẽ đủ để minh họa sức mạnh và tính phổ biến của xu hướng trong một tổng thể trực quan nhằm duy trì hoặc tái thiết trạng thái đơn giản nhất của nó. Nhà tâm lý học Ivo Kohler đã làm việc với kính bảo hộ làm biến dạng. Sự tò mò của ông được khơi dậy bởi thực tế rằng, khi tính đến những khiếm khuyết của bộ máy thị giác con người, thì "hình ảnh tốt hơn nó sẽ diễn ra". Ví dụ, thuỷ tinh thể của mắt không được sửa chữa quang sai cầu, thế mà các đường thẳng trông vẫn không cong. Kohler đã sử dụng các thấu kính lăng trụ, tạo ra một "thế giới cao su": khi đầu quay sang phải hoặc trái, các vật thể trở nên phình ra hoặc hẹp lại; khi đầu di chuyển lên hoặc xuống, các vật thể dường như xiên theo chiều này, sau đó nghiêng về hướng khác. Tuy nhiên, sau khi đeo kính bảo hộ trong vài tuần, các biến dạng biến mất và sự đơn giản ổn định thông thường của các hình dạng trực quan sẽ tự tái lập.

Các quan sát khác cho thấy, khi chấn thương não gây ra các vùng mù trong trường thị giác, các hình không hoàn chỉnh được xem là hoàn chỉnh, miễn là hình dạng của chúng đủ đơn giản và đủ để xuất hiện trong vùng được nhìn thấy. Một chấn thương rộng ở một trong các thùy vỏ não ở phía sau não có thể làm đen hoàn toàn nửa bên phải hoặc bên trái của trường thị giác, một triệu chứng được gọi là hemianopia (bán manh). Nếu bệnh nhân được đề nghị cố định tâm của một vòng tròn trong 1/10 giây, mặc dù chỉ một nửa của nó thực sự kích thích các trung tâm thị giác trong não, thì bệnh nhân đó báo cáo rằng đã nhìn thấy một vòng tròn hoàn chỉnh. Khi được hiển thị một phần nhỏ hơn của vòng tròn, bệnh nhân sẽ báo cáo là nhìn thấy "một loại cung" và điều này cũng đúng với một nửa hình ellipse. Bệnh nhân này không chỉ phỏng đoán bằng cách suy luận từ kinh nghiệm trong quá khứ, mà thực sự là cân nhắc đưa ra, hoặc một hình hoàn chỉnh hoặc không đầy đủ. Trên thực tế, ngay cả dư ảnh của các hình thù hoàn chỉnh cũng đã được nhận thức là hoàn chỉnh. Rõ ràng, khi vỏ não thị giác tiếp nhận đủ hình chiếu, quá trình điện hóa do hình chiếu gây ra có thể tự hoàn thành trong não và từ đó tạo ra nhận thức về một tổng thể hoàn chỉnh trong ý thức.

Hình 41

Cuối cùng, nhà tâm lý học Fabio Metelli đã đóng góp một tài liệu tham khảo đặc biệt thanh lịch về một hiện tượng sơ đẳng, một hiện tượng có thể được coi là được phép. Nếu người ta quay một đĩa đen xung quanh tâm của nó, sẽ không có chuyển động nào được nhận thấy mặc dù mọi điểm trên toàn bộ bề mặt thực sự đang chuyển động. Tuy nhiên, nếu người ta quay một hình vuông màu đen xung quanh tâm của nó, thì toàn bộ bề mặt được coi là đang quay, bao gồm bất kỳ bề mặt tròn nào (hình 41), mà bản thân chúng sẽ không cho thấy sự vận động nào cả. Một điểm, cho dù được coi là đang chuyển động hay đang đứng yên, phụ thuộc vào tình huống trực quan đơn giản nhất sẵn có cho mẫu tổng thể: đối với hình vuông, đó là một phép quay, đối với đĩa tròn, nó đứng yên.

The World is upside-down


5 May 2021


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
AnVP
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!