Nhiếp ảnh gia vĩ đại chụp cũng nhiều như nhiếp ảnh gia vĩ trung bình. Bù lại, người thứ nhất biết xóa ảnh theo cách vĩ đại.
MiukaFoto 
(born in 1972)

MÀU SẮC CÓ ĐO ĐƯỢC KHÔNG? PHẦN 2.

Qua tài liệu đã được giới thiệu ở phần 1, chắc chắn bạn đọc đã thấy được rằng, nhận thức về màu sắc là một quá trình cực kỳ phức tạp. Các phần khác nhau của quá trình này được nghiên cứu qua các môn khoa học khác nhau — hoá học, vật lý, sinh học và tâm lý học. Cho đến thời điểm này chúng ta mới chủ yếu đề cập tới sinh học; đã đến lúc phải chuyển sang các khía cạnh khoa học khác.

Ví dụ, để đối tượng được nhận thức là màu đỏ với phần trên màu lam, thường cần bốn thành phần: nguồn sáng, người quan sát, bản thân đối tượng và không gian (khoang, phòng) mà ba thành phần đầu tiên nằm trong đó. Nguồn sáng cần bức xạ ra năng lượng phân bố gần đều trong bước sóng quang phổ giữa 380 và 770 nm, với cường độ (có nghĩa, công suất) đủ để mắt của người quan sát phản ứng được với các thay đổi của cường độ này. Người quan sát cần có tầm nhìn màu sắc ít nhất là bình thường. Không gian cần được lấp đầy bằng môi trường đủ trong suốt cho bức xạ quang học, còn các bức tường bao quanh nó cần giúp để nhận thức đối tượng đúng như đối tượng (chẳng hạn, trên mặt tường có thể thấy bóng đổ của đối tượng). Đối tượng cần được sơn bằng chất tạo màu gồm hai loại, một trong số đó (lam) ưu tiên hấp thụ phần sóng dài và sóng trung của năng lượng tới, đồng thời phản xạ thành phần sóng ngắn; tương tự, màu kia (đỏ) phản xạ năng lượng sóng dài và mạnh mẽ hấp thụ tất cả phần còn lại.

1.9: Các điều kiện cần thiết để nhận thức một đối tượng màu đỏ có phần trên màu lam. Cần có nguồn sáng, không gian được chiếu sáng và một người quan sát có tầm nhìn màu sắc tương đối bình thường. Sơ đồ cũng chỉ ra sự hình thành của hình ảnh trên võng mạc, vị trí của vỏ não, các cơ và tuyến.

Quá trình nhận thức một đối tượng màu đỏ có phần trên màu lam diễn ra theo trình tự được mô tả trong hình 1.9. Năng lượng từ nguồn sáng 1 chạm tới đối tượng 2 và bức tường của không gian. Một phần năng lượng này được phản xạ về hướng mắt của người quan sát, đi vào đồng tử 3 và tạo ra trên võng mạc một dàn xếp 4 nào đó, mà các phần tử của nó khác biệt nhau theo mật độ và thành phần quang phổ của luồng bức xạ. Một phần nào đó của năng lượng chạm tới võng mạc bị hấp thụ bởi các sắc tố nhạy sáng của các tế bào que và nón của võng mạc. Tất cả các quá trình này — đối tượng nghiên cứu của vật lý.

Những thay đổi về lượng của năng lượng mà các que và nón hấp thụ (nhờ các chuyển động của mắt gây ra các xê dịch hình ảnh trên võng mạc) kích thích các thụ thể ánh sáng, kết quả là một tập hợp các xung động thần kinh được chuyển tiếp đi theo các sợi thần kinh thị giác. Các xung động chạy từ sợi này qua sợi khác qua các khớp thần kinh, và quá trình này dừng lại với sự kích thích tiếp theo của một phân bố kích hoạt nào đó của các tế bào thần kinh tại phần gáy của vỏ não 5, và đến lượt luồng xung động thần kinh tiếp tục điều phối phản xạ của các cơ và các tuyến của người quan sát. Các xung động thứ cấp từ trung tâm thị giác của não bộ có thể kích thích người quan sát khiến họ quay đầu, ngắm nhìn kỹ đối tượng (điều đó đòi hỏi hoạt động của các cơ điều khiển chuyển động ngẫu nhiên của mắt), mỉm cười hoặc thậm chí thốt lên: «Tôi đang nhìn thấy một cái chai màu đỏ với cái nắp màu lam». Sinh lý học nghiên cứu tập hợp của các quá trình và phản xạ gây ra bởi năng lượng bức xạ lọt vào mắt.

Tâm lý học nghiên cứu khía cạnh chủ quan của hoạt động thị giác trong vỏ não bộ, và nói chính xác là nhận thức về màu sắc. Dù được thể hiện bằng những khái niệm đơn giản nhất, tuy vậy nhận thức về màu sắc chưa bao giờ là hành vi đơn giản. Nó tích hợp khả năng định tính cặn kẽ và đầy đủ của tất cả các bối cảnh yếu tố cơ bản: của nguồn sáng, không gian và đối tượng. Nhưng chính khía cạnh này của màu sắc được quan tâm nhiều nhất trong công nghiệp. Bất kỳ phép đo lường nào trong công nghiệp cũng được tiến hành nhằm tới một mục đích duy nhất để hiểu được — người tiêu dùng sẽ nhìn thấy gì?

HOÁ HỌC — SẮC TỐ VÀ PHẨM MÀU

Chúng ta vừa nói sơ quát về các khía cạnh vật lý, sinh lý và tâm lý của màu sắc. Những khía cạnh này được mô tả bằng những thuật ngữ khoa học tương ứng, và một số trong số đó sẽ được định nghĩa khi đến lúc cần. Nhưng nếu nhà sản xuất muốn hoàn toàn tự tin sao cho khách hàng nhìn thấy các chai màu đỏ với các nắp màu lam, trước tiên họ cần quan tâm đến khía cạnh hoá học của màu sắc, có nghĩa vấn đề làm sao để có được các chất phẩm màu đỏ và lam đúng như mong muốn.

Màu sắc của phần lớn các đối tượng có được là do có các chất hấp thụ năng lượng bức xạ một phần nào đó của quang phổ nhìn thấy được. Các chất tạo màu đó được là sắc tố (bột sơn) nếu chúng không hoà tan được, còn nếu có thể hoà tan được thì được gọi là thuốc nhuộm. Tính chất của chất tạo màu mà nhờ đó nó hấp thụ ít nhiều năng lượng của một đoạn nhất định nào đó của quang phổ nhìn thấy được bắt nguồn từ cấu tạo hoá học. Trước đây các sắc tố và phẩm nhuộm được khai thác ở dạng chiết xuất từ mô sống (một số loại lông gà, động vật có vỏ) hoặc từ thực vật (cây chàm, thiến thảo), bây giờ tiến bộ của hoá học hữu cơ đã mang đến khả năng nhận được những chất này và nhiều chất tạo màu khác bằng phương pháp tổng hợp. Lý thuyết hoá học về màu sắc cố gắng đi tìm mối quan hệ giữa sự hấp thụ có chọn lọc năng lượng ánh sáng tới và cấu trúc hoá học. Các lý thuyết này còn quá chưa đầy đủ, nhưng tuy nhiên đã có một giá trị to lớn trong việc tìm kiếm và sáng chế các chất tạo màu có lợi.

Ảnh minh hoạ: tektilprofi.com

Một số thời điểm mấu chốt mà một nhà sản xuất chất tạo màu cần phải quan tâm: 1) chúng đưa ra đúng màu mà người tiêu dùng chấp nhận được; 2) chúng có trong thành phần của thành phẩm; 3) chúng bền màu trước tác động của ánh sáng mặt trời, của các chất rửa và hoá chất (axit, kiềm, muối); 4) hàm lượng của chúng trong mỗi đơn vị thành phẩm; 5) giá thành của sản phẩm. Nhà sản xuất có thể nhận phần lớn thông tin này từ các chuyên gia hoá hữu cơ và các chuyên viên kỹ thuật phụ trách màu sắc. Điều gì khiến chất tạo màu gắn kết được với các sợi vải về mặt hoá học, cái gì làm cứng lớp phủ nhựa với các loại thuốc nhuộm này khác, tại sao một số chất tạo màu phù hợp trong sản xuất gốm sứ, còn các chất khác thì không,— tất cả điều đó còn chưa được giải thích đầy đủ. Nhưng các nghiên cứu đang liên tục đưa ra các kết quả khả quan dưới các dạng thuốc nhuộm mới mẻ từng ngày, các phương pháp nhuộm mới và các thành phất bột màu và dung môi mới để sản xuất các sản phẩm gốm sứ. Sự bền vững của màu sắc trong tác động kéo dài của môi trường lên vật liệu dệt, nhựa và màng màu được nghiên cứu rộng rãi trong các điều kiện tác động lâu dài của khí hậu tự nhiên, cũng như các biện pháp lão hoá nhân tạo, khi các vật liệu phải tiếp xúc với tác động phối hợp của bức xạ hồ quang với các điện cực carbon, hay hồ quang xenon áp xuất lớn và do phun nước ngọt hay nước mặn. Khía cạnh hoá học của màu sắc xứng đáng được nhắc tới như một vấn đề quan trọng, bởi vì một phần đáng kể của đo lường màu sắc công nghiệp được tiến hành nhằm mục đích cải thiện việc đánh giá thương mại về các chất được mà các nhà hoá học nhận được.

Và vẫn phải nói thêm rằng, các chuyên gia hoá học, người tổng hợp và nghiên cứu các chất tạo màu, đang chưa đủ chú tâm tới mô tả màu sắc của các chất này. Như một thông lệ, họ đang có thói quen nghĩ và nói về màu sắc bằng các thuật ngữ của công thức hoá học hữu cơ mà họ sử dụng trong việc chế tạo các chất đó.

VẬT LÝ — NĂNG LƯỢNG BỨC XẠ VÀ QUANG PHỔ

Các đối tượng xung quanh trở nên hữu hình là nhờ có năng lượng bức xạ được chúng phát ra hoặc phản xạ rồi đi tới mắt của chúng ta. Nếu định đo màu một cách thực sự, chúng ta buộc phải đo năng lượng bức xạ. Chúng ta biết rằng, năng lượng xuất hiện dưới các dạng khác nhau, như, nhiệt lượng, động lượng, năng lượng của hoạt động cơ khí, năng lượng hoá học, năng lượng điện và năng lượng nguyên tử. Năng lượng có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác, nhưng bản thân nó không tự nhiên mất đi. Một phần năng lượng của bóng đèn sợi đốt (hay của một thể nóng khác) có thể chuyển tới đối tượng và các vật xung quanh nó. Đến lượt phần năng lượng này bị hấp thụ một phần và chuyển hoá thành nhiệt năng làm đối tượng nóng lên; chỉ có một phần không đáng kể được phản xạ về hướng người nhìn. Phần năng lượng bức xạ đi tới giác mạc theo cách mà nó có thể đi qua đồng tử, được phản xạ và khúc xạ qua các bề mặt của giác mạc và thuỷ tinh thể, một phần được hấp thụ bởi môi trường bên trong mắt, biến thành nhiệt lượng và sưởi ấm môi trường này. Một phần đáng kể được hấp thụ vào màng mạch máu, và màng này cũng nóng lên nhờ sự hấp thụ đó. Tuy nhiên, có một phần rất không lớn của năng lượng bức xạ đi qua võng mạc, được các sắc tố nhạy sáng trong các thụ thể — tế bào que và nón — hấp thụ. Phần năng lượng này khi được hấp thụ không chuyển hoá thành nhiệt lượng, mà thành năng lượng hoá học. Nói cách khác, một tập hợp các các sắc tố nhạy sáng, sau khi nhận được phần năng lượng bổ sung nhỏ bé này từ hình ảnh đọng trên võng mạc, sẽ phân chia thành các phần riêng rẽ.

Về mặt lý thuyết, tác động của sự phân rã đó lên hoạt tính của các sợi thần kinh võng mạc cũng có thể được theo dõi và mô tả dưới dạng năng lượng. Nhưng phần năng lượng chủ yếu của các xung động thần kinh — đó là năng lượng tích tụ trong chính mô thần kinh. Năng lượng bức xạ được các thụ thể nhạy sáng hấp thụ và biến thành năng lượng hoá học, tiếp tục tác động lên thần kinh theo nguyên tắc «chìa khoá kích hoạt », chỉ đưa ra điểm bùng nổ ban đầu của hoạt tính thần kinh, chỉ tiêu cho năng lượng «riêng» của mô thần kinh.

Bức xạ vừa sở hữu tính chất hạt, vừa đồng thời sở hữu tính chất sóng. Hiện tượng phân rã ánh sáng của sắc tố sẽ dễ dàng được xem xét hơn, nếu coi bức xạ là luồng lượng tử (hạt); các phép đo màu sắc thì lại dễ hiểu hơn dựa trên cơ sở khái niệm về độ dài bước sóng bức xạ. Khi mô tả bức xạ ở dạng sóng, có thể hình dung nó dưới dạng các sóng ngang (theo hướng truyền) của các dao động đi xuyên qua chân không với vận tốc 2.998*10⁸ (299,792,458) m/s. Tần số dao động, theo quy tắc, được thể hiện bằng Hz (số lần dao động trong 1s), hoặc là có thể định lượng gián tiếp qua độ dài bước sóng, có nghĩa khoảng cách giữa hai điểm cực đại liền kề của dao động. Tần số f đo bằng Hz, rõ ràng là quan hệ với bước sóng λ trong chân không theo biểu thức:
f =  c
λ

trong đó c — vận tốc truyền năng lượng chùm sáng trong chân không. Vận tốc truyền ánh sáng trong môi trường vật chất (không khí, nước, kính, nhựa, các lớp chất tạo màu) luôn luôn nhỏ hơn c và bằng tỷ số c/n; đại lượng n — tham số đặc trưng cho độ trong suốt của môi trường và được gọi là chỉ số khúc xạ của môi trường này. Chỉ số khúc xạ n đối với không khí là ~1.0003 (trong các tài liệu kỹ thuật, liên quan đến đo lường màu sắc, nó được chấp nhận là bằng 1). Chỉ số khúc xạ của nước là ~1,33; của kính, nhựa và thuốc nhuộm dao động trong khoảng 1.4—1.6.

1.10: Phổ năng lượng bức xạ. Vùng bức xạ nhìn thấy được có bước sóng từ 400 đến 700 nm. 1nm = 10⁻⁹ và là đơn vị thuận tiện để đo độ dài bước sóng của bức xạ, đặc biệt là trong dải quang phổ nhìn thấy được.

Năng lượng bức xạ có nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào tần số bức xạ. Một số tên gọi này được liệt kê trong hình 1.10 cùng các giá trị bước sóng tương ứng. Cần chú ý rằng, về mặt bản chất tự nhiên thì các sóng radio, tia X, tia vũ trụ, v.v... không khác gì ánh sáng (dải phổ điện từ nhìn thấy được), ngoại trừ khác về tần số. Thật thú vị, chẳng hạn, phương pháp nhìn xuyên mây mù, được phát triển trong Thế Chiến II, được dựa trên việc sử dụng các khoảng phổ của năng lượng bức xạ mà trước đây đã bị lãng quên ở một mức độ nhất định. Đó là sóng radio tần số cao trong công nghệ radar, và bức xạ hồng ngoại tần số thấp trong các thiết bị truyền tín hiệu vượt mây mù. Trong cả hai trường hợp, người ta đã sử dụng được tính chất xuyên thấu của sóng radio, tương tự như tính chất có định hướng của ánh sáng.

Qua một phần tử ngẫu nhiên về diện tích trong Vũ Trụ, có thể lọt vào tầm nhìn của người quan sát, luôn có một năng lượng bức xạ lan truyền với một vận tốc nhất định. Năng lượng này được phát ra từ: các thể vật chất trong kết quả của kích thích dạng nhiệt hoặc dạng khác của các phân tử có trong thành phần của chúng (năng lượng bức xạ nhiệt); bản thân các nguyên tử tạo ra các phân tử riêng rẽ, chẳng hạn khi chuyển đổi trạng thái từ không bền vững sáng bền vững (năng lượng bức xạ nguyên tử, tia vũ trụ); các bức xạ sóng radio, tia X, v.v... nhân tạo. Tất cả năng lượng này có thể được mô tả đầy đủ, khi xác định được, số lượng của nó là bao nhiêu khi đi qua phần tử diện tích trong một đơn vị thời gian trong mỗi phần phổ bức xạ. Năng lượng bức xạ đi qua một phần tử đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian được gọi là thông lượng bức xạ, hoặc ít được gọi hơn — công suất bức xạ; trong trường hợp này, khi đại lượng đó được xét riêng cho mỗi phần của dải phổ, thì nó được gọi là mật độ phổ của thông lượng bức xạ hoặc mật độ phổ của công suất bức xạ. Khi đưa ra được phân bố đầy đủ về mật độ phổ của thông lượng bức xạ băng qua diện tích đó của tầm nhìn về hướng người quan sát, nhà vật lý hoàn toàn xác định được các tính chất của bức xạ mà có thể gây ra cảm giác về một màu nhất định của diện tích này ở mắt người quan sát. Sự phân bố mật độ phổ của thông lượng bức xạ đó, trong khoa học màu sắc có tên gọi là phân bố phổ của năng lượng kích thích màu, còn bản thân thông lượng bức xạ được gọi đơn giản là kích thích màu. Tuy nhiên, như chúng ta đã rõ, mắt người chỉ nhạy cảm với một phần nhỏ (nhỏ hơn quãng tám) của toàn bộ phổ năng lượng bức xạ, mà cái đó không có giới hạn trên trục bước sóng (hay trục tần số). Khi xem xét các vấn đề về màu sắc ít khi có nhu cầu phải tìm ra phân bố phổ của thông lượng bức xạ đối với các bước sóng nhỏ hơn 380nm và lớn hơn 780nm, bởi vì mắt người cực kém nhạy cảm trước bức xạ nằm ngoài đoạn phổ này.

Có thể tách ánh sáng trắng thành các tia đơn sắc nhờ lăng kính hoặc cách tử nhiễu xạ. Hình minh hoạ: shimadzu.com

Việc phân hủy một chùm sáng gần song song (mang năng lượng bức xạ trong đoạn phổ nhìn thấy được) thành các tia thành phần có thể làm được nhờ lăng kính hoặc cách tử nhiễu xạ. Phép so sánh về lượng giữa các luồng bức xạ đi tới các phần khác nhau của quang phổ sau sự phân rã đó có thể tiến hành nhờ các bộ thu tín hiệu nhạy xạ (bolometer - bôlô kế, cặp nhiệt, tế bào quang điện). Thiết bị — kết hợp phần tử tán sắc (lăng kính, cách tử nhiễu xạ) với máy dò (đo và hiệu chuẩn thông lượng bức xạ) để tính toán thông lượng này thành các đơn vị tuyệt đối, — được gọi là phổ kế vô tuyến (spectroradiometer). Nếu một thiết bị tương tự chỉ dành để so sánh số lượng của luồng bức xạ tại đoạn phổ này khác với thông lượng của chùm sáng tiêu chuẩn (kiểu mẫu, chuẩn mực), người ta thường gọi nó là quang phổ kế (spectrophotometer). Thiết bị loại đó là công cụ rất quan trọng đối với một nhà vật lý trong thực tiễn đo màu, và trong phần tương ứng của tài liệu sẽ được bàn tới sâu hơn. Nhờ có nó mà một nhà vật lý không những có thể hoàn toàn xác định được các tính chất vật lý vốn có của một nguồn sáng hoặc một bề mặt đồng nhất không lớn từ phía xa đang đưa ra đúng một màu này chứ không phải màu khác, mà còn tính chất của những nguồn sáng này tạo màu cho các đối tượng mà chúng chiếu sáng. Anh ta cũng nhận được khả năng xác định cơ sở màu sắc vật lý của các chất trong đục tự nhiên hay tổng hợp, bằng cách nghiên cứu, các đối tượng thay đổi thành phần bức xạ lọt tới chúng như thế nào.

Nếu đã xác định được rằng, các luồng năng lượng có mật độ phổ như nhau đi từ hai phần tử liền kề của tầm nhìn (trường màu sắc) về hướng mắt người quan sát, chúng ta sẽ tuyệt đối tin rằng, hai phần tử này sẽ được nhận thức là có màu hoàn toàn giống nhau. Như vậy, nhà vật lý cho chúng ta khả năng xác định được kích thích màu sắc một cách đầy đủ và nhất quán, bởi vì, khi các luồng bức xạ giống nhau chính xác, với phân bố quang phổ giống hệt nhau, tiến đến mắt từ hai trường đồng nhất, thì mắt hoặc mọi máy thu bức xạ sẽ không có bất kỳ phương pháp nào để phân biệt màu sắc của hai trường này.

Nhà sản xuất bóng đèn thắp sáng có thể phải cần nhờ nhà vật lý xem hộ tại sao một loại đèn không nên dùng cho cửa hàng thịt. Chủ cửa hàng này có thể phàn nàn rằng, loại bóng đèn đó làm cho thịt ám màu xanh lục hoặc, chẳng hạn, ám đỏ hơi nhiều, so với ánh sáng tự nhiên. Tuy nhiên chúng ta có thể tự tin rằng, các nhà vật lý không nghĩ về màu đỏ hay màu xanh của miếng thịt trong ánh sáng ban ngày. Họ sẽ nghĩ về hệ số phản xạ quang phổ của thịt, về phân bố quang phổ của thông lượng bức xạ tới và sử dụng các định nghĩa về watt, mét vuông, nano-mét, bất chấp câu chuyện đang bàn về các bóng đèn không thể đem ra bán, hay về các bóng đèn của đối thủ cạnh tranh (phép so sánh chúng chính là bản chất của vấn đề). Họ sẽ chủ yếu chú ý tới kích thích của màu sắc.

TÂM LÝ NGƯỜI MUA HÀNG

Mỗi người trong chúng ta, với tư cách là người mua hàng, sẽ đánh giá món hàng trên cơ sở của các tín hiệu truyền tới não thông qua các giác quan nhạy cảm. Chúng ta sờ, nếm, nâng (để ước chừng nặng nhẹ) và nhìn vào tất cả những gì đang được bầy bán. Sau khi liếc nhìn thương hiệu, đôi khi chúng ta còn đọc cả những dòng chữ nhỏ li ti gắn trên phần mô tả. Thực tế trong mỗi một lần tiếp xúc với hàng trao tay (mua hàng — đó chỉ là trường hợp phổ biến nhất), màu sắc đóng một vai trò quan trọng. Người mua hàng nhận thức màu sắc như một tính cách hoặc của chính món hàng, hoặc của bao bì; nói cách khác, màu sắc đối với người mua hàng hầu như luôn là màu sắc của đối tượng. Đối với mỗi cách đóng gói hay mỗi loại hàng, trong đầu chúng ta đã có sẵn hình dung ký ức về màu sắc của chúng (hoặc về khoảng màu cho phép). Người mua hàng không mua bánh mì có vỏ quá tối vì cho rằng nó bị quá lửa. Cà chua và táo không được quá xanh, bằng không người mua hàng sẽ nghĩ rằng chúng chưa đủ chín. Thịt bầy bán cần có màu đỏ tươi, không quá sẫm, không ngả xám, không ám lục và không tối bầm.

Bao bì thành phẩm, cũng giống như nhãn hàng và thương hiệu, cần có màu mà phần lớn khách hàng đã quen thuộc; nếu màu sắc bao bì quá bợt bạt (ám xám hoặc nhợt nhạt), khách hàng cơ thể cho rằng món hàng đó đã nằm quá lâu trên kệ đến mức màu sơn đã bị phai, còn chất lượng của nội dung đã giảm sút. Màu quá tối hoặc quá xám của bao bì thường bị liên tưởng tới bụi bẩn và khiến người mua hàng nghĩ đến việc món hàng đã từng qua tay rất nhiều người và bị trả lại sau khi họ phát hiện ra điều gì đó bất ổn, và cửa hàng không còn cách nào khác ngoài đặt lại nó lên kệ. Tông màu không quen mắt (chẳng hạn, cam thay vì đỏ) là điều tồi tệ nhất đối với khách hàng — họ thậm chí có thể không nhận ra nổi loại hàng mà mình đã mua trước đây, và có thể nghĩ đó là loại hàng mới. Khi cuối cùng họ nhận ra mặt hàng quen thuộc, thì có thể có ấn tượng rằng nhà sản xuất đã bỏ bê chất lượng. Tiếp theo là một chuỗi ác cảm — nếu nhà sản xuất không quan tâm đến bao bì, thì có lẽ cũng bỏ qua cái gì đó trong nội dung. Sau khi kết luận như vậy, khách hàng sẽ dừng mua loại hàng đó, kể cả khi màu sắc bao bì lại giống như cũ, và sẽ chuyển sang hàng của hãng khác.

Sự phụ thuộc của người tiêu dùng vào tiêu chuẩn màu sắc thói quen sẽ dẫn đến những đánh giá không chính xác trong thực tiễn về hàng hoá, điều này có nhiều nguyên nhân. Đôi khi thành phần quang phổ của ánh sáng chiếu lại đóng vai trò quan trọng trong nhận thức màu. Một số loại bóng huỳnh quang khiến sản phẩm thịt có màu ám lục, kèm theo cảm giác rằng thịt đã ôi thiu; một số loại bóng khác lại khiến nó đỏ hơn khi nhìn trong ánh sáng ban ngày. Chọn mua cà là vạt trong ánh sáng đèn huỳnh quang có thể dẫn đến việc trả lại hàng ngay hôm sau vì không hợp màu. Màu sắc của đồ vật xung quanh cũng ảnh hưởng đến đánh giá màu của hàng hoá do hiện tượng đồng tương phản màu sắc. Các màu đã được quan sát trước đó sẽ gây ảnh hưởng đến đánh giá tương phản màu sắc sau đó. Khi thích ứng với màu lam, thì màu đang xem xét có vẻ vàng hơn, và ngược lại, khi đã thích ứng với màu lục thì các màu được nhìn sau đó có vẻ đỏ hơn. Lông thú chất lượng thấp màu nâu hoặc màu gỉ thường bị chọn nhầm, nếu có quá nhiều ánh đèn neon của phố xá (đèn đỏ, biển quảng cáo) lọt qua kính tới nơi trưng bày sản phẩm. Khi mắt khách hàng đã quen với nguồn sáng, họ không nhận ra điều đó, phản ứng yếu ớt hơn trước màu cam và màu đỏ, và bởi vậy không có khả năng nhận định đúng về màu gỉ ngoài ý muốn. Xét chung và toàn diện, trạng thái mắt và khả năng của chúng ta nhờ có mắt mà nhận định được màu sắc của các đối tượng — hoạt động khá tốt bất chấp sự thay đổi rộng của ánh sáng môi trường và của phông nền; trong phần lớn các trường hợp, điều đó giúp chúng ta đưa ra lựa chọn chuẩn xác.

Các tên gọi mà khách hàng dùng để ám chỉ các màu tiêu chuẩn đã có trong hình dung tâm lý thực ra không đáng kể: đỏ cà chua, xanh đậu, tím cà, xanh như như hộp thuốc «Lucky Strike», vàng mỡ gà, v.v... Bản chất nhận định màu sắc của người tiêu dùng nằm trong tính chất và mức độ chênh lệch giữa nhận thức thực tế và tiêu chuẩn của quá khứ tâm lý mà họ cho rằng cần tương ứng với màu của đối tượng. Các khác biệt về màu sắc tương quan với hàng loạt các nhận thức chủ quan về màu sắc của mỗi người tiêu dùng. Kiểu khác biệt này có thể đưa ra dưới dạng các cặp đôi cảm giác đối lập: sáng - tối, xám - no, và cũng như bất kỳ cặp kết hợp ký hiệu sắc thái màu từ đỏ, vàng, lục và lam. Chẳng hạn, cảm giác về màu lục có thể được nói kèm như là lục ám vàng, lục ám lam; tương tự, cảm giác về màu cam có thể biến thiên giữa đỏ và vàng. Biến đổi mức độ tối và sáng được gọi là khác biệt theo độ sáng; biến đổi từ xám đến màu được thể hiện «thuần khiết» — khác biệt theo độ no màu. Biến đổi mà con người đang cố gắng thể hiện bằng hàng loạt các từ ngữ dạng như đỏ, vàng, lục và lam, — khác biệt theo tông màu. Màu đang được nhận thức của một đối tượng nằm tại phần này khác trong trường thị giác của một người quan sát ngẫu nhiên có thể thấy đổi theo độ sáng, độ no màu và tông màu, nhưng cứ mỗi lần mô tả nó thì chỉ có thể dùng một kết hợp duy nhất về định lượng của các khái niệm đó. Điều này được chúng ta dùng làm cơ sở để khảng định rằng, nhận thức về màu sắc của các đối tượng là một hành vi ba chiều.

Sử dụng các thuật ngữ «độ sáng», «độ no» và «tông màu» để mô tả các cảm giác về màu sắc khi ngắm nhìn các đối tượng đã là điều đang rất thông dụng. Có nhiều người hệ thống hoá các cảm giác của mình về màu sắc tương ứng với ba đại lượng biến thiên, thậm chí kể cả khi họ không gọi tên chúng như chúng ta gọi. Cũng có thể có cả những phương pháp mô tả tổ chức cảm giác màu sắc khác. Chẳng hạn, kết hợp hai sự khác biệt nhận thức theo độ sáng và độ no là một cách khá thường gặp và được gán cho các thuật ngữ phổ biến. Nếu màu của đối tượng trong nhận thức của chúng ta vừa sáng hơn và vừa xám hơn màu khác, thì chúng ta nói rằng nó có màu nhạt hơn. Còn chất lượng ngược lại với độ nhạt sẽ được gọi là độ sâu của màu sắc. Như vậy, có thể nói:

nhạt hơn = sáng hơn và xám hơn = trắng hơn, sâu hơn = tối hơn và no hơn, và tương tự, rực hơn = sáng hơn và no hơn = thuần khiết hơn, đục hơn = tối hơn và xám hơn = bẩn hơn = đen hơn.

Ngôn ngữ của người tiêu dùng liên quan đến xác định màu sắc thường là không rõ ràng, nhưng theo một cách nào đó mà nó vẫn giúp được họ truyền đạt được hình dung quen thuộc mà tất cả chúng ta đều biết theo trải nghiệm cá nhân chủ quan. Giữa các hình dung thói quen này và các phép đo vật lý (phân bố phổ của hệ số phản xạ, phân bố phổ của thông lượng bức xạ) là khác biệt lớn từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng để thực tế sử dụng các phép đo vật lý chúng ta cần tìm một phương pháp «chuyển đổi» các đại lượng vật lý tạo ra kết quả sao cho tương quan với điều gì người tiêu dùng đang thấy. Chúng ta cần xây dựng một cầu nối giữa vật lý và tâm lý.

TÂM VẬT LÝ HỌC — LÀM SAO ĐỂ DỰ ĐOÁN ĐƯỢC MỘT NGƯỜI MUA HÀNG BÌNH THƯỜNG SẼ NHÌN THẤY GÌ?

Nếu các nhà sản xuất muốn biết món đồ sẽ ra sao trong con mắt của một người mua hàng bình thường, thì trong đa số trường hợp họ sẽ hướng tới một phương pháp cực kỳ trực tiếp. Họ sẽ chọn hú hoạ một ai đó từ các nhân chứng đang đứng gần tại thời điểm này và thăm dò. Người đó có thể là tổng giám đốc công ty, một công nhân nhà máy, một trưởng phòng thiết kế, một người đứng máy hoặc bất kỳ ai có thể được coi là «thượng đế». Đội ngũ tác giả của hàng hoá thậm chí có thể dựa vào chính mình nếu họ nghĩ rằng với trạng thái tâm lý đang có, họ sẽ kết hợp được sự cả tin với tính hoài nghi, những yếu tố đặc trưng thường thấy ở một người mua hàng bình thường. Hoặc là họ có thể yêu cầu cán bộ phụ trách trang trí, hoặc chuyên viên quảng cáo của mình tiến hành một cuộc khảo sát. Vấn đề cốt lõi cần được làm rõ — màu được chọn có đúng hay không?

Một bìa quảng cáo Lucky Strike giữa những năm 50s của thế kỷ trước. Nguồn: vintag.es

Khách hàng hướng tới điều gì, họ sẽ mua bao nhiêu và chấp nhận mức giá nào — đó là các vấn đề, biến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thành một chiến dịch có bản chất mạo hiểm đồ sộ. Các kết luận dựa trên khảo sát diện rộng vẫn thường bị hoài nghi; tính hoài nghi này bị nhân lên đột ngột sau mỗi thất bại gây tai tiếng, khiến chiến lược kinh doanh dựa trên khảo sát bị chỉ trích. Một công ty đang trên đà phát triển, quảng cáo thương hiệu — những biểu tượng của hàng hoá, có thể đã không chỉ một lần nhận được (và, có lẽ, vẫn đang nhận) những khoản lợi nhuận khủng khiếp, nếu có khả năng tăng mức tiêu thụ sản phẩm đúng cách. Các lãnh đạo của công ty này có thể đặt câu hỏi: «Các anh chị đã rầm rộ tiến hành khảo sát. Vậy thì kết quả ở đâu?». Tuy nhiên, bất chấp mạo hiểm gặp sai lầm, thì các cuộc khảo sát — chính thức hay không chính thức — có thể vẫn sẽ là có lợi cho nhà sản xuất công nghiệp và các hoạ sỹ thiết kế phụ trách trang trí hàng hoá, thậm chí trong các vấn đề khó khăn như chọn màu cho sản phẩm và bao bì đóng gói. Nếu tính toán cặn kẽ đến hàng loạt các hệ điều kiện có thể có khi khách hàng nhìn vào sản phẩm (môi trường ánh sáng, khoảng cách nhìn, sự vật xung quanh, v.v...), thì có thể chọn ra được màu sắc cho hàng hoá một cách đủ khôn khéo.

Sau khi màu sắc cho một sản phẩm tương ứng, ví dụ, «đài radio», đã được chỉ định, chẳng hạn, màu «đỏ sâu», nhà sản xuất có thể gặp tình huống phải tái tạo màu này khi muốn làm ra từ 10 đến 100000 thân vỏ, năm này qua năm khác. Bước đi đầu tiên có vẻ đơn giản. Họ giao dự án và mẫu màu cho đại diện bên công ty sản xuất nhựa và xin báo giá. Sau đó cần bàn bạc về kích thước, và các bên thương lượng về giá cả cũng như các điều kiện giao hàng. Tiếp theo, bên chế tạo vỏ nhựa tuyên bố: "Chúng tôi có thể làm ra chính xác màu đỏ sâu mà các anh chị muốn bằng một chất tạo màu đặc biệt, nhưng loại thuốc tiêu chuẩn «Red XG-12S» của chúng tôi sẽ đưa ra một màu rất gần như thế, giúp đơn giản hoá quá trình sản xuất. Chúng tôi đã áp dụng thành công chất tạo màu tiêu chuẩn này trong hàng chục trường hợp, và nếu các anh chị đồng ý đổi, giá thành có thể giảm đi một chút". Nhà sản xuất máy thu radio sực nhớ lại các kết quả khảo sát cho thấy người tiêu dùng thường từ chối màu đỏ nâu và tin tưởng rằng màu này không hợp khi dùng ở nhà hoặc trên bãi biển, hoặc không hài hoà với màu va ly hành lý trong các chuyến du lịch. Đi càng xa — càng phức tạp: nhà sản xuất hoàn toàn không tự tin vào chất phẩm có màu gần như mong muốn mà người ta đã sử dụng trong hàng chục trường hợp. Họ vẫn hi vọng in dấu ấn màu đỏ sâu no đủ vào tiềm thức của người tiêu dùng — màu của sự giàu có, tượng trưng cho âm thanh của thiết bị. Vì thế họ trả lời: "Chúng tôi cần thời gian suy nghĩ. Hãy cho chúng tôi xem mẫu màu «Red XG-12S»". Họ thấy rằng, màu «Red XG-12S» là đỏ ám nâu với độ no vừa phải, có thể được gọi là màu đỏ bẩn. Họ gửi hai mẫu màu này tới một công ty sản xuất nhựa khác và cũng nhận được các điều kiện hợp đồng. Các kết quả thăm dò cho thấy, thực ra họ có thể tiết kiệm được vài xu cho mỗi một đài radio nếu đồng ý sử dụng màu đỏ ám nâu. Nhưng sau đó họ một lần nữa nhớ lại các kết quả khảo sát; họ không có ý định hoàn toàn bỏ qua điều đó. Bởi vậy họ quyết định chỉ thêm vài xu cho mỗi một đơn vị sản phẩm, nhưng nhất quyết đòi hỏi nó phải có màu đỏ sâu như dự định ban đầu. Cái giá mà công ty nhựa thứ nhất đưa ra rẻ hơn, vậy cần ký hợp đồng với công ty này, trong đó nêu rõ các điều kiện thương mại tuân thủ màu đỏ sâu đầu tiên.

1933 Rolls-Royce Phantom II Continental Sports Coupé by Freestone & Webb; 1961 Ferrari 250 GT Cabriolet Series II by Carrozzeria Pininfarina. Src: carakoom.com

Trước công đoạn này chưa phát sinh bất cứ vấn đề nào liên quan đến vật lý và tâm vật lý. Trong chín trên mười trường hợp nhà sản xuất sẽ nhận được màu sắc mong muốn, nếu họ cắt mẫu màu ban đầu thành hai phần; một phần được gửi tới đối tác để kiểm soát đối chiếu màu sắc của linh kiện (trong trường hợp của chúng ta — vỏ đài radio). Tạm thời chưa có nhu cầu phải đo lường chính xác. Nhưng thực tế nhà sản xuất vẫn rất thường xuyên gặp rắc rối: họ nhận ra rằng màu vỏ của các đài radio dần dần khác đi so với màu đỏ sâu đã chọn và chuyển thành màu đỏ ám nâu làm từ chất màu rẻ tiền. Nhà sản xuất như nằm trên đống lửa — họ trả không hề ít tiền cho vấn đề màu sắc đã thống nhất giữa hai bên, trong khi đó đối tác lại gian lận, manh mún phá thêm chất màu đỏ ám nâu rẻ tiền. Một vài xu nhân với 50000 đầu sản phẩm là một khoản cũng kha khá. Nhà sản xuất hủy đơn hàng cho phần chưa được nhận với lý do đối tác đang treo đầu dê bán thịt chó, và dừng chuyển tiền. Nhà cung cấp doạ sẽ kiện ra toà, một mực khẳng định rằng mọi vấn đề về màu sắc của linh kiện đang được tuân thủ theo đúng luật thương mại. Nhà sản xuất phăm phăm doạ chứng minh rằng nhà cung cấp đã pha trộn thêm chất tạo màu «Red XG-12S». Họ bèn mời nhà hoá học chuyên gia về phẩm màu «Red XG-12S» đến đồng thời đưa ra hai vỏ nhựa, một cái tương ứng với màu đỏ sâu đã chọn (theo ý của họ), còn cái kia không tương ứng. Phân tích của nhà hoá học nói như sau: chất nhựa của cả hai chiếc vỏ đều được tạo màu bằng một và chỉ một loại phẩm; không thể chứng minh chúng khác gì nhau bằng hoá học. Nhà sản xuất tiếp tục cho rằng mình bị lừa. Còn nhà cung cấp thì nghi rằng sản phẩm đài radio kia đã không được thành công như mong đợi nên nhà sản xuất tìm cớ để hủy hợp đồng. Hai bên khổ sở với hàng loạt hệ lụy: bán tín bán nghi, chi phí luật sư, đàm thoại quốc tế, bay đi bay lại, hết họp lại hành, đầu óc căng thẳng... Hoá ra, hai nửa mẫu màu ban đầu, một trong số đó bị sờ mó nhiều lần, đã không còn có màu giống nhau. Cuối cùng, nhà sản xuất phải chấp nhận khôi phục các chuyến nhập linh kiện, nhưng xin được giá thấp hơn. Trong kết quả của câu chuyện này, họ đã học được hai điều: thứ nhất, mẫu màu đôi khi bị thay đổi vì thời gian; thứ hai, không ai biết được chính xác cái gì được gọi là các điều kiện tuân thủ màu sắc cho phép về mặt thương mại.

Đã đến lúc phải đặt đợt hàng mới. Nhà sản xuất rút ra bài học. Họ bắt đầu quan tâm đến việc làm thế nào để lô hàng đầu tiên có màu đỏ sâu. Họ muốn thêm một mục mới vào hợp đồng chỉ rõ trong trường hợp nào thì màu nhựa được xem là chấp nhận được. Trái ngược với hoài nghi, họ nhận được các vỏ nhựa rất ưng ý và muốn lưu lại thông số của màu sắc này. Họ không phải là chuyên gia trong lĩnh vực đo lường màu sắc; họ chỉ biết mua linh kiện radio ờ đâu, rắp ráp và thử nghiệm chúng như thế nào. Nhưng họ được biết đến một loại thiết bị biết phân tích màu sắc,— quang phổ kế, đo được mẫu màu phản xạ lượng năng lượng là bao nhiêu và trong phần quang phổ nào. Sau một thời gian ngắn tìm hiểu, họ vỡ lẽ rằng có một số tổ chức cho thuê thiết bị vật lý này để phân tích mẫu, với giá phải chăng. Nếu mẫu này cần được sử dụng như một tiêu chuẩn thương mại thì nhà sản xuất có thể gửi nó tới phòng thí nghiệm hoặc khoa vật lý của trường đại học tổng hợp gần nhất, hoặc thậm chí tới Viện tiêu chuẩn Quốc gia. Cuối cùng thì họ nhận được các đường cong hệ số phản xạ trong giới hạn quang phổ nhìn thấy được (thường có đủ chúng trong khoảng bước sóng từ 400 đến 700 nm) không những đối với mẫu vật màu đỏ sâu mà họ đang mong muốn, và màu đỏ ám nâu mà họ muốn tránh, mà còn đối với tất cả các mẫu màu khác, chẳng hạn trắng, đen, nâu sáng mà giả sử họ muốn dùng cho các sản phẩm đài radio kích thước nhỏ. Hình 1.11 chỉ ra sự phụ thuộc của thay đổi hệ số phản xạ vào độ dài bước sóng (hoặc, như người ta thường nói, phân bố dải phổ của hệ số này) đối với năm mẫu màu vừa được liệt kê.


Nhà sản xuất thấy rất thú vị với kết quả của các thí nghiệm này. Họ nhận ra rằng, mẫu màu trắng phản xạ ánh sáng rất mạnh (từ 80 đến 90%) trong phần quang phổ nhìn thấy được, mẫu màu đen chỉ phản xạ ~4% bất chấp độ dài bước sóng của ánh sáng tới có thế nào. Họ hoang mang không hề nhẹ khi thấy giá trị của hệ số phản xạ không bao giờ < 4% đối với mọi mẫu màu trong mọi khoảng quang phổ nhìn thấy được, nhưng người ta cho họ thấy rằng, mọi mẫu nhựa được đánh bóng sẽ góp thêm phần phản xạ ~4% năng lượng tới, đơn giản chỉ vì tính chất phản xạ của gương; bởi vậy bất kỳ mẫu nào mà chỉ phản xạ 4% trên toàn bộ dải bước sóng, thực tế đang hấp thụ toàn bộ năng lượng bức xạ chạm tới bề mặt của nó. Tiếp theo, họ cảm thấy tò mò trước hình dạng phức tạp của đường cong thể hiện hệ số phổ phản xạ của mẫu màu nâu sáng; họ ngỡ ngàng khi nhận ra rằng, đường cong này chứa thông tin cho thấy, màu nâu sáng của mẫu nhựa có được là do có ở trong đó ít nhất ba sắc tố — đỏ , tương ứng với độ hấp thụ mạnh nhất ở bước sóng 550 nm ; cam , hấp thụ mạnh nhất ở loanh quanh bước sóng 470 nm , và trắng , hấp thụ mạnh nhất ở vùng cực tím (có nghĩa vùng có bước sóng nhỏ hơn 400 nm ). Sự chú ý lớn nhất của nhà sản xuất tập trung vào sự khác nhau giữa các đường cong thể hiện mẫu màu đỏ sâu mà họ muốn áp dụng cho sản phẩm, và mẫu màu đỏ ám nâu mà họ đang né tránh.

Nghiên cứu hình 1.11, nhà sản xuất đài radio đã đi tới một số khái quát hoá. Họ thấy rằng, mẫu màu trắng (sáng nhất trong số năm mẫu) có hệ số phản xạ lớn nhất và mẫu màu đen (tối nhất) phản xạ ít nhất so với các mẫu khác. Ngoài ra, mẫu màu nâu sáng (màu sáng hơn so với hai màu đỏ sâu và đỏ ám nâu) phản xạ ánh sáng mạnh hơn tại mọi khoảng quang phổ. Rõ ràng, hệ số phản xạ, theo một cách chung nào đó, đang tương kết với độ sáng của màu mà mắt đang nhận thức. Phần trăm ánh sáng mà mẫu vật phản xạ càng lớn, màu sắc của nó trong mắt ta càng sáng.

Thông tin chứa trong các đường đồ thị 1.11 cho phép đưa ra cả các khái quát khác. Mấu chốt khác biệt đáng kể nhất của mẫu trắng cũng như mẫu đen là chúng phản xạ ánh sáng theo cách không chọn lọc (không chiết sắc), có nghĩa đối với chúng thì mọi khoảng quang phổ đều như nhau, không có khoảng nào được chúng phản xạ và chuyển năng lượng tới mắt người nhìn mạnh hơn hay yếu hơn. Kết quả là những mẫu này mang đến cho nhận thức của chúng ta một màu trung tính hoặc ngả xám. Các mẫu màu nâu sáng, đỏ nâu hay đỏ sâu tạo ra tuần tự màu sắc với độ no lớn dần, có nghĩa càng lúc chúng càng khác màu xám. Có thể nhận thấy rằng, các đường đồ thị hệ số phổ phản xạ tương ứng sở hữu độ dốc mạnh dần và, suy ra, đối với các mẫu màu mà chúng thể hiện sẽ có độ chiết màu chọn lọc tăng dần của phản xạ ánh sáng. Màu đỏ sâu rất đồng tính với màu sắc bức xạ liền kề với đoạn quang phổ có bước sóng dài. Trong khi ấy màu nâu sáng, mặc dù đâu đó nhắc đến màu sắc của đoạn quang phổ gần với bước sóng 585 nm , nhưng tông màu của nó rất nhợt nhạt và bị tẩy trắng giống như màu của bức xạ tương ứng. Những so sánh này giúp đưa ra một quy tắc chung: tông màu của màu sắc đang được nhận thức của đối tượng tương ứng với tông màu của bức xạ tại vùng quang phổ nào mà đối tượng phản xạ ánh sáng mạnh nhất, còn độ no của màu đang được nhận thức tương ứng với mức độ chiết sắc chọn lọc của phản xạ, có nghĩa, với độ dốc của đường đồ thị hệ số phổ phản xạ.

Giờ đây nhà sản xuất đã có thể hiểu được tại sao màu đỏ sâu mà họ chọn ngay từ lúc ban đầu là màu no hơn: đường cong thể hiện thay đổi quang phổ của hệ số phản xạ của mẫu màu tương ứng có độ dốc lớn. Tuy nhiên, khi họ có ý định áp dụng kết luận khái quát do chính mình rút ra về độ sáng của màu sắc để làm rõ tại sao mẫu màu đỏ nâu được thấy là sáng hơn so với mẫu màu đỏ sâu, thì họ mới vỡ nhẽ ra rằng, cách giải thích khái quát này chỉ có tính cách chất lượng. Vì lẽ rằng, tại một số vùng quang phổ thì mẫu màu đỏ sâu phản xạ ánh sáng mạnh hơn nhiều lần so với mẫu màu đỏ nâu. Cần làm sao đó để khu vực quang phổ giữa 550 và 660 nm (nơi mà sự phản xạ của mẫu thứ hai mạnh hơn của mẫu thứ nhất) cung cấp được một phần đóng góp vào độ sáng lớn hơn khu vực liền kề với đoạn bước sóng dài (trong đó, tỷ lệ giữa các hệ số phản xạ thay đổi ngược lại). Đến bây giờ nhà sản xuất lần đầu tiên cảm giác được nhu cầu phải có thông tin đáng tin cậy về mặt tâm vật lý. Họ cần có cơ sở để phân tích thương mại nhờ đó đảm bảo khách hàng sẽ nhận thức được màu sắc vỏ nhựa là không sáng quá, không tối quá, không ám vàng quá, không ám lam và ám xám quá. Họ hiểu rằng cần có một phương pháp giúp dự đoán màu sắc của mẫu này có tương ứng với mẫu khác hay không. Họ đã rút ra được bài học khá lớn để đề xuất rằng, phương pháp này cần dựa trên một phương thức tính trung bình các đường đồ thị hệ số phổ phản xạ của từng mẫu một, nhưng tham chiếu đến các vùng quang phổ khác nhau và đưa ra giá trị trung bình này cần tương ứng với tính cách nhận thức của màu sắc sản phẩm trong mắt người mua hàng.

Nhà sản xuất vỡ oà lên trong vui sướng khi biết rằng phương pháp đó đã có từ lâu. Thực ra đang có một phương pháp được phổ biến rộng rãi trong thực tiễn công nghiệp để kiểm soát màu sắc với tên gọi là phương pháp đo màu CIE. Uỷ ban quốc tế này khuyến khích các thủ tục và tiêu chuẩn cơ bản đề cập đến tất cả các khía cạnh của ánh sáng, chiếu sáng và kỹ thuật thắp sáng, bao gồm cả đo màu (colorimetry).

Khi sử dụng phương pháp CIE, nhà sản xuất biết rằng họ cần biết về phân bố quang phổ của luồng bức xạ phát ra từ nguồn sáng. Khi điều đó đã được làm sáng tỏ, họ cần sử dụng ba hàm số đo lường (hàm định lượng) để tính trung bình đường cong phản xạ quang phổ cho mỗi mẫu vật liệu. Chúng được gọi là các hàm cộng màu, và xác định nhận thức màu sắc của một người có tầm nhìn màu sắc bình thường.

Khi nhà sản xuất đài radio giải quyết một vấn đề lặp đi lặp lại, phương pháp CIE tiên đoán rằng, thực ra hai mẫu vật liệu không được nhận thức như nhau về màu sắc. Có lẽ họ ngay lập tức sẽ quan tâm đến khả năng dự báo các đại lượng tách biệt màu sắc (dị hoá màu) và nhận được các số liệu cụ thể để nói rằng một mẫu màu nào đó so với một mẫu màu chuẩn là xám hơn hay no hơn, đỏ hơn, lục hơn, làm hơn hay vàng hơn, sáng hơn hay tối hơn. Để làm được các dự báo định lượng như thế là việc khá khó, nhưng đã có các phương pháp để phục vụ cho các mục đích này, «mà nhờ đó, nhà sản xuất có thể biết được định lượng khá chính xác của đại lượng và hướng phân biệt nhận thức về màu sắc có trong hai mẫu vật liệu». Những phương pháp này dựa trên vô vàn các thực nghiệm và thí nghiệm để làm sáng tỏ vấn đề phân biệt trực quan về màu.

Bây giờ chúng ta giả sử rằng, nhà sản xuất đài radio thực tế đã xác định được đại lượng và hướng khác biệt nhận thức trong màu sắc của hai mẫu. Họ nghiễm nhiên quan tâm đến việc người tiêu dùng có chấp nhận được sự khác biệt màu sắc đó hay không. Họ đặt ra câu hỏi: «Liệu khoa học về màu sắc có thể giúp chúng ta trong vấn đề này và đưa ra phương pháp dự đoán về cực đại khác biệt màu sắc của sản phẩm so với mẫu gốc, mà khi đó người tiêu dùng vẫn chấp nhận mua hàng?». Rất tiếc, khoa học về màu sắc không thể giúp gì đáng kể cho họ để giải quyết vấn đề này. Vấn đề dự đoán tính chấp nhận được của khác biệt màu sắc vượt ra ngoài khuôn khổ nghiên cứu khoa học. Nó phụ thuộc vào nhiều vấn đề khó trả lời, như loại chất liệu cần tạo màu, khó khăn kỹ thuật và chi phí sản xuất, mong muốn và mơ ước của khách hàng, và nhiều yếu tố khác.

Trước khi bắt tay vào phác thảo cặn kẽ hệ thống định màu CIE, đánh giá lệch màu và các điều kiện hiển thị màu được chấp nhận, chúng ta cần xem xét thêm một số yếu tố liên quan đến tầm nhìn màu sắc và, suy ra, nằm trong cơ sở cho các phép đo màu sắc.

TÙY CHỈNH MÀU SẮC

Nếu những người quan sát có tầm nhìn màu sắc bình thường có ý định thay đổi màu sắc của một chi tiết nào đó nằm trong trung tâm của trường thị giác, sao cho nó giống màu của chi tiết nằm bên cạnh, thì kiểu gì cũng phát hiện ra rằng họ cần dựa vào ba phương tiện tuỳ chỉnh độc lập. Giả sử, họ sử dụng các phẩm màu đỏ , vàng và lam thường có sẵn trong tay. Khi đó, bằng cách trộn lẫn hai màu bấy kỳ theo mọi tỷ lệ có thể có, họ ít khi không nhận được sự cân bằng màu. Thậm chí, để nhận được màu nâu phải thêm màu lam vào hỗn hợp của đỏ và vàng . Trong sự đa dạng của màu sắc nhận được bằng cách trộn ba màu, có thể dễ dàng tìm ra được màu giống như màu cần có, nhưng các màu ban đầu không bao giờ được ít hơn ba. Cũng chính các tính toán đó được áp dụng cho các loại thuốc nhuộm anilin đỏ, vàng và xanh dương trong ảnh màu, in thạch bản và in màu. Tương tự, nếu người quan sát định cân bằng màu cho đốm sáng trên màn ảnh trắng bằng cách chiếu nhiều đèn màu, họ cũng rút ra kết luận rằng, hoặc họ cần ba kích thích màu sắc với thành phần quang phổ xác định, hoặc (nếu chỉ pha hai kích thích màu) hai nguồn kích thích mạnh mà thành phần quang phổ của một trong hai kích thích đó phải tùy chỉnh được. Quy tắc này cũng áp dụng được cho hỗn hợp màu sắc có được khi quay đĩa màu; chỉ cần chia đĩa này thành bốn phần để có ba phần màu có thể tùy chỉnh độc lập. Tầm nhìn màu sắc bình thường là nhận thức ba chiều!

Chúng ta đã vài lần nhắc đến bản chất ba chiều của tầm nhìn màu sắc bình thường. Chúng ta đã nhấn mạnh rằng, để tầm nhìn đó có thể hoạt động được thì trong võng mạc phải có các sắc tố nhạy sáng hoặc kết hợp sắc tố lọc của ít nhất ba loại khác nhau. Tiếp theo, để giải thích cho lộ trình đồ thị quang phổ của hệ số phản xạ của mẫu vật liệu, có được nhờ quang phổ kế, và bằng cách đó đo được màu sắc, cần có ba hàm số định lượng, hay còn gọi là hàm số cộng màu. Và cuối cùng, mô tả về nhận thức màu sẵ đòi hỏi ba biến số: độ sáng, tông màu và độ no màu. Ôn lại các phương pháp khác nhau mà nhờ đó vùng trung tâm của trường thị giác có thể trở thành cân bằng màu với vùng liền kề, một lần nữa lại nói ra tính ba chiều của một tầm nhìn màu sắc bình thường, tuy nhiên chúng ta cần phân tích điều gì mới là thứ thực sự diễn ra với kích thích màu sắc trên lộ trình di chuyển từ nguồn sáng đến võng mạc mắt.

Color in Business, Science and Industry THIRD EDITION DEANE B. JUDD and GUNTER WYSZECKI John Wiley & Sons, New York / London / Sydney / Toronto. Chuyển dịch tiếp từ phiên bản tiếng Nga, NXB Mir, Moskva, 1978: MiukaFoto.

13 Jul 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Colorimetry
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!