Ở nơi nào có sự ước lệ, ở đó tồn tại một không gian cho sáng tạo và nghệ thuật.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

CHƠI ĐÙA VỚI CÁC QUY TẮC

Phối cảnh trung tâm tiếp tục cuốn hút hoạ sỹ trong ba phương diện. Nó đề xuất một hình ảnh tả thực nổi bật về thế giới vật lý; nó cung cấp một hình mẫu bố cục giầu có và tinh chế; và một quan niệm về thế giới hội tụ truyền đạt biểu hiện tính cách của riêng mình.

Theo những gì hình mẫu bố cục có liên quan, thì nó sẽ đủ để chỉ ra rằng, không gian hai chiều trong nghệ thuật thuở hồng hoang đã trình bày về cơ bản một khung ngang dọc nằm song song với mặt phẳng chính diện với độ căng thẳng cực tiểu (hình 221a). Phối cảnh đẳng độ phủ lấp lên những toạ độ cơ sở này với một hoặc hai bộ đường thẳng song song, hướng nghiêng về phía các toạ độ đó: điều đó tạo ra sự giầu có của những quan hệ mới mẻ và các góc cũng tạo ra chiều sâu thông qua sự nghiêng xiên (hình 221b). Phối cảnh trung tâm, cuối cùng, bao phủ các đường ngang dọc chính diện bằng một hệ thống của các chùm hội tụ đang tạo ra một trung tâm chính diện và cung cấp một loại các góc (hình 221c).


Hiệu ứng tả thực của phối cảnh trung tâm đã được các hoạ sĩ đặc biệt lưu tâm tới, những ai đã triển khai triệt để hệ thống của nó trong thế kỉ XV. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, ngay từ ban đầu các hoạ sĩ đã sẵn sàng đi chệch khỏi các qui tắc, bởi vì chúng dẫn đến sự méo mó khó coi và sự cưỡng chế không được chào đón của chủ đề và biểu hiện khi được áp dụng một cách máy móc. Các phần khác nhau của một cài đặt kiến trúc trong một bức tranh không phải lúc nào cũng được làm ra tuân theo một điểm biến mất như nhau. Nói về mặt kĩ thuật hơn, nhà tâm lí học Zajac đã đề xuất rằng, sự hội tụ phía trên tầm mắt sẽ tác động mạnh mẽ hơn so với sự hội tụ phía dưới tầm mắt và vì thế cái thứ nhất sẽ bị giảm đi, còn cái thứ hai sẽ được tăng lên.


Những thay đổi dạng này được áp dụng một cách trực giác nhằm làm cho bức tranh phù hợp với biểu hiện dự kiến hoặc nhìn tự nhiên hơn. Từ thế kỷ XX, các hoạ sĩ siêu thực đã và đang thao túng một khuôn khổ không gian để đẩy cao cảm giác đến mức kỳ lạ. Giorgio de Chirico, cụ thể, đã làm điều này bằng cách cất lén những mâu thuẫn phối cảnh vào trong các cảnh quan kiến trúc của ông. Hình 222 được trích ra từ một bức tranh của Chirico, Lassitude of the Infinite (1912). Chất lượng bí ẩn như mơ của cái đuợc liếc nhìn lúc bạn đầu như có dáng vẻ của một bố cục tả thực trực tuyến được thu nhận theo bản chất bằng cách đi chệch khỏi các quy tắc phối cảnh. Cài đặt của bức tranh tổng thể được vẽ ra trong phối cảnh tập trung, trong khi pho tượng lại nằm trên một khối hộp đẳng độ. Vì mâu thuẫn giữa hai hệ thống không gian không tương thích này, pho tượng có vẻ như một sự xuất hiện chiếu hình lên mặt đất chứ không phải vật chất nằm trên nó. Cùng lúc đó bệ đỡ của pho tượng, với kết cấu đơn giản và thuyết phục hơn, có xu hướng tạo ra các biểu hiện hội tụ như những biến dạng thực tế, hơn là như các hình chiếu của những đường song song thoái trào. Cài đặt này có một chút hiệu lực để dường như kháng cự lại sự tấn công, bởi vì nó chứa đầy những mâu thuẫn nội bộ. Các cạnh của quảng trường gặp nhau ở nơi xa phía trên đường chân trời ở điểm A. Như vậy, hoặc là thế giới đột ngột tiến tới một cái kết và vũ trụ trống rỗng bắt đầu vượt ra ngoài một đoàn tàu nhỏ và một thị trấn ở hậu cảnh, hoặc, nếu đường chân trời được chấp nhận như một cạnh khung tham chiếu, thì quảng trường với sự hội tụ cần có ở nơi đó, sẽ xuất hiện như một sự mở rộng kỳ diệu đi ngang kéo dài vô cùng tận, tạo ra một nơi mà không ai có thể hiện diện và vì thế cũng tạo ra toàn bộ sự trống rỗng.

Giorgio de Chirico. Lassitude of the Infinite, 1912.

Kết quả là hai dãy cột nhìn có vẻ như bị lòng đất phẳng tách rời nhau ra. Hoặc, nếu mắt tiếp nhận hình dạng của quảng trường, thì hai dãy cột, đang hội tụ tại các điểm nằm ở cạnh trên hoặc hơi phía dưới cạnh trên của khung tranh (B, C), lại chùn lại một cách nghịch lý. Được thấy trong sự cô lập tách khỏi phần còn lại của bối cảnh, những hàng cột này nhìn có vẻ khá bình thường, ngoại trừ cửa vòm chính diện ở cận trái, nó làm cho chiều cao của mình thích nghi với mặt tiền của hàng cột thoái trào theo một cách kì quặc. Cuối cùng, bóng đổ của hành cột phía bên phải còn tạo ra hai điểm biến mất (D, E) không tương thích với nhau. Như vậy, một loạt các mâu thuẫn vốn có đang tạo ra một thế giới nhìn có vẻ hữu hình nhưng hư ảo, và làm đảo lộn hình dạng tùy theo việc chúng ta đang nhìn vào đâu và chúng ta chọn nguyên tố nào để làm cơ sở phán xét phần còn lại.

Figure 223. Giorgio de Chirico. Melancholy and Mystery of a Street, 1914. Coll. Stanley R. Resor

Cõi hư ảo như mơ như thế còn tràn ngập trong những tác phẩm khác của de Chirico, chẳng hạn, Melancholy and Mystery of a Street (hình 223). Thoạt nhìn, cảnh tượng trông có vẻ đủ vững chắc, nhưng chúng ta cảm thấy rằng cô gái lạc lõng với chiếc vòng đang bị đe dọa bởi một thế giới sắp nứt dọc theo những đường nối vô hình hoặc trôi dạt vào những mảnh vỡ. Lại là một khối rắn đẳng độ, toa xe, đang tố cáo sự hội tụ của các tòa nhà là những biến dạng trên thực tế. Ngoài ra, phối cảnh của hai hàng cột cũng đang phủ định lẫn nhau. Nếu như hàng cột phía bên trái, đang định nghĩa đường chân trời nằm cao ở phía trên, được lấy làm cơ sở tổ chức không gian, thì hàng cột phía bên phải lại xuyên vào lòng đất. Trong điều kiện ngược lại, đường chân trời nằm vô hình ở đâu đó bên dưới trung tâm bức tranh, và con đường mọc lên với hàng cột sáng chói chỉ là một ảo ảnh xảo quyệt hướng dẫn đứa trẻ lao vào hư vô.

Để làm cho các ảo ảnh trở thành thuyết phục, một số hoạ sĩ theo phong cách siêu thực như de Chirico đã bố trí sao cho các hệ thống không gian khác biệt của họ biến thành tổng thể thực tế liền mạch đáng tin cậy. Các nghệ sĩ theo trường phái lập thể lại sử dụng một thủ tục khác cho một mục đích khác. Họ đã cố gắng tạo ra dung mạo cho thế giới hiện đại như sự tương tác bấp bênh của các đơn vị độc lập, trong đó mỗi đơn vị đều tự hợp pháp và mạch lạc, nhưng lại không liên quan tới các toạ độ không gian cai quản các đơn vị liền kề. Trước đây tôi đã từng nhắc đến các hoạ sĩ theo phong cách lập thể, khi so sánh với các sắp xếp truyền thống giữa phối cảnh trung tâm và phối cảnh đẳng độ (hình 208), tôi đã chỉ ra, kết quả là các xung đột thị giác, mâu thuẫn và can thiệp lẫn nhau đã được các nghệ sĩ như Braque và Picasso cố tình tìm kiếm. Cái mà họ muốn trưng ra không phải là sự tích lũy hỗn loạn của các đối tượng, tương tự như sườn núi dốc với những tảng đá rải rác, trong khi điều đó có thể là một bản sao của sự hỗn loạn trong một bối cảnh không gian vô cùng mạch lạc. Họ đã theo đuổi một sự hỗn loạn nền tảng hơn rất nhiều, mà cụ thể, là sự bất tương thích vốn có trong chính không gian chung. Mỗi đơn vị nhỏ cùng nhau tạo thành một lập thể tĩnh vật hoặc hình tuân theo khuôn khổ không gian riêng của nó. Thường thì các đơn vị này là các hình chữ nhật đẳng độ. Tuy nhiên, quan hệ không gian của chúng lại là cố tình phi lý. Chúng không phải là để được nhìn như các phần của một tổng thể liên tục, mà như những cá thể tự hàm chứa nhỏ bé, băng qua nhau một cách mù quáng.


Để chỉ ra rằng những chồng chất này không diễn ra trong không gian mạch lạc, các nghệ sĩ lập thể đã sử dụng một phương tiện khiến các đơn vị kết xuất với nhau trong suốt hoặc mờ dần về phía hậu cảnh trung lập của bức tranh. Hiệu ứng tâm lý sẽ trở thành hiển nhiên nếu chúng ta nhớ ra rằng chính điều đó được sử dụng trong các hình ảnh chuyển động để đại diện cho sự gián đoạn của không gian. Nếu cảnh quay diễn biến từ phòng ngủ tới hành lang khách sạn, căn phòng mờ dần vào vùng không có không gian, có nghĩa, trong một khoảnh khắc không gian hình ảnh nhường chỗ cho bề mặt vật lý của màn hình, sau đó, quá trình ngược lại giới thiệu không gian mới của sảnh. Hoặc, trong một vòng hòa tan, cả hai cảnh xuất hiện trong một khoảnh khắc như chồng chéo lên nhau, qua đó cho thấy sự độc lập về không gian của chúng đối với mắt. Nhưng trong khi trong câu chuyện phim thông thường, thủ pháp mờ dần và hòa tan chỉ đại diện cho những bước nhảy trong không gian đồng nhất và trật tự, các bộ phim thử nghiệm và tranh vẽ lập thể sử dụng chúng như một phần trong nỗ lực để có được sự tích hợp của các mệnh lệnh bất hoà.

Bị ép buộc vào tính đồng thời không gian, các đơn vị riêng lẻ không thể thay thế nhau như cảnh phim mà phải bác bỏ sự vững chắc của nhau. Từ quan điểm của bất kỳ đơn vị nào trong số chúng, những đơn vị khác là không có thực. Chỉ có một sự cân bằng tinh tế của vô số thế lực gặp nhau ở vô số góc độ mới có thể mang lại một sự hợp nhất. Có lẽ đây là loại trật tự duy nhất có sẵn cho con người hiện đại trong các mối quan hệ xã hội và trong việc đối phó với các quyền lực trái ngược trong tâm trí của họ.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.




1 Feb 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gian
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!