Không có tuyệt mỹ bên ngoài sự thống nhất; không có sự thống nhất bên ngoài sự đồng thuận (muốn có sự đồng thuận đôi khi phải áp bức).
Denis Diderot 
(1713 - 1784)

THẲNG DIỆN VÀ NGHIÊNG

Các đặc điểm sáng tạo của trẻ em đang minh chứng hùng hồn rằng, khác với một bản vẽ kỹ thuật, một hình ảnh mĩ thuật của không gian là không thể hiểu được như một tái thành phẩm đơn giản của thực tại vật lý. Không gian tạo hình mĩ thuật được mở toang ra chủ yếu là trên bề mặt tạo hình. Nó được phát triển từ các đặc tính của phương pháp thể hiện hai chiều như kết quả của thực nghiệm thị giác với các đường nét, hình dạng và sắc màu, có trong mệnh lệnh của hoạ sỹ.


Các hình thù 117 a, b, c đặc trưng cho các giai đoạn đầu của sáng tạo mĩ thuật. Chúng ta nhắc lại rằng, mô hình trong dạng hình vuông là mô hình tương đương hai chiều đầu tiên thay thế cho một vật thể nổi khối, có dạng khối lập phương. Sau đó, để bức tranh có vẻ hoàn thiện hơn, thì các hình ảnh mặt cạnh được thêm vào. Điều đó giới hạn chức năng của hình vuông hay hình chữ nhật ban đầu, vì giờ đây chúng đã tượng trưng cho hình thức chính diện của khối hộp. Không lâu sau các bề mặt vuông vắn của các cạnh bên bắt đầu nhìn có vẻ không đạt yêu cầu. Chúng ngừng minh chứng rằng, một vật thể rắn chuyển từ từ sang chiều đo lường thứ ba. Tại sao sự biến hoá này cần phải là rõ ràng? Hình 117b nhìn có vẻ phẳng bẹt không là bởi vì nó «không tự nhiên», bị vẽ không đúng, mà bởi vì, một mô hình vuông vắn không được nhận thức như biến dạng của một hình thù đơn giản hơn. Vì không có áp lực bên trong, nó không đòi hỏi bất kỳ một sự thả lỏng nào có liên quan đến một hình dung nổi khối. Hình thù này yên vị trong mặt phẳng chính diện, bền vững và thỏa mãn.

Tất cả sẽ thay đổi, khi người vẽ gặp phải nhu cầu thể hiện các cạnh bên là nghiêng. Các hình bình hành xoay nghiêng được nhận thức như các biến dạng của những hình chữ nhật. Giờ đây một hình thù đơn giản hơn có thể nhận được nhờ nhận thức nổi khối. Đó là cách xuất hiện của phương pháp cơ bản để thể hiện các vật thể rắn, nổi khối.


Hình 171 là một ví dụ của phương pháp tạo hình không gian. Có thể phát hiện ra phương pháp đó ở mọi nơi trong giai đoạn đầu phát triển mĩ thuật. Trẻ em tự phát minh ra phương pháp này và hiếm khi đi được xa hơn nếu không có gợi ý của người lớn. Có thể phát hiện ra điều đó trong các tác phẩm tự chế của các hoạ sỹ theo chủ nghĩa «độc tài». Phương pháp này đã được dùng để biểu hiện các đối tượng có dạng hình hộp, cả trong nghệ thuật châu Âu thời trung cổ, cũng như trong nghệ thuật Ấn Độ và Trung Hoa. Những ai cho rằng, các bức vẽ nhìn có vẻ thuyết phục hơn khi chúng phản ánh vẻ ngoài của các đối tượng vật lý một cách chính xác hơn và gần gũi hơn, đã dường như phải kinh ngạc, khi họ nhận ra rằng, một mô hình tương tự như vậy được chúng ta nhận thức ngẫu nhiên và tổng hợp như một biểu trưng của hình khối. Bởi vì, nó khá mãnh liệt chênh lệch khỏi ảnh chiếu của một vật thể vật lý nổi khối.

Để nhìn thấy các mặt cạnh của một đối tượng vật lý, chủ thể nhận thức cần nhìn tới chúng từ một điểm mặt cạnh nào đó. Trong các điều kiện như thế, tất cả các mặt, kể cả mặt tiền, cần nhìn có vẻ biến dạng. Khi mặt chính diện được thấy rõ ràng là hình vuông, điều đó có nghĩa rằng, người ta đang nhìn vào đối tượng tuyệt đối vuông góc và không có bất cứ một mặt cạnh hay mặt cạnh trên nào khác được nhìn thấy. Từ một điểm quan sát khác, ta thấy các cạnh bên xuyên thấu vào chiều sâu, trong trường hợp đó không thể thấy một hình vuông chính diện nào. Hình 171 chỉ có thể nhận được như ảnh chiếu của một hình lục giác không chuẩn và bất đối xứng, nó không bao hàm bất kỳ một góc vuông hoặc một cặp cạnh song song nào.

Điều đó còn được giải thích thêm rằng, trong ảnh chiếu của một khối hộp vật lý, các cạnh xa dần sẽ dường như hội tụ theo khoảng cách tăng dần. Vâng, chẳng hạn, để tạo ra các cạnh song song trong hình 171, về mặt vật lý, các cạnh bên buộc phải phân kỳ. Nói cách khác, mô hình của chúng ta là một con quái vật thực thụ theo quan điểm của các định luật tạo hình của chủ nghĩa tả thực. Và vẫn luôn là như thế, xuyên suốt nhiều thế kỷ, mô hình này đã được nhận thức như biểu trưng thị giác của khối lập phương.

Ảnh chụp màn hình từ game «Hay Day»

Lời giải cho bí ẩn này nằm ở chỗ, một mô hình không phải là bản sao chính xác lấý từ thiên nhiên, mà được tạo ra nhờ các phương tiện tạo hình. Nó không phải là ảnh chiếu của một vật thể vật lý, mà trước tiên là phép thay thế đơn giản nhất của vật thể đó trong không gian tạo hình ba chiều. Mô hình này là sự kết nối của ảnh quan cạnh bên và cạnh chính diện; lúc này nó bảo toàn được các nét chuẩn của một hình vuông đúng, thêm vào đó là các cạnh nghiêng của mặt bên, nằm trong quan hệ tuân thủ theo hình vuông. Các cạnh bên này tạo ra những hình dạng chuẩn chính trong chiều thứ ba. Kết cấu của khối lập phương được truyền đạt qua một vài nét tính cách đáng kể. Theo khả năng cho phép, những tính cách khách quan được giữ nguyên trong hiện trạng chưa bị can thiệp. Hình thù có các cạnh vuông góc và song song đồng kích thước. Tất cả các biến dạng được đưa về tối thiểu, cần thiết cho hiệu ứng nổi khối.

Phương pháp này, thích hợp để tạo hình không những cho mọi đối tượng có hình dạng chuẩn, mà còn cho tổng thể kiến trúc nói chung, sẽ được tôi gọi là «phối cảnh chính diện». Trong phối cảnh chính diện, một trong số các mặt của vật thể rắn nhất định phải nằm trong mặt phẳng chính diện. Khi đó sẽ ngầm hiểu rằng, tất cả các đường được sắp xếp trong quan hệ với mặt phẳng chính diện (trực giao) với một góc vuông, nhưng chúng được vẽ ra trong một góc nghiêng bất biến xuyên suốt toàn bộ bức tranh. Như vậy, các đường song song sẽ vẫn là song song thậm chí trong chiều thứ ba. Điểm đặc biệt tính cách này để tái tạo đối tượng đã được biết đến với tên gọi là phương pháp đẳng độ. Khối lập phương của chúng ta được thể hiện trong phối cảnh «đẳng độ — chính diện».

Phương pháp này sở hữu các lợi thế đáng kể trước các phương pháp tạo hình khác. Nó sử dụng kết cấu nhận thức và định hướng đơn giản nhất có trong những thứ chúng ta có, và, suy ra, các quy luật của phương pháp này rất dễ hiểu. Trong phương pháp này, không gian tạo hình được thiết lập trong quan hệ tới mặt phẳng quan sát sao cho, một trong các mặt của đối tượng nằm song song với mặt phẳng tranh, còn các mặt khác, dù rằng được thể hiện trong tư thế nghiêng, vẫn được ngầm hiểu là nằm song song với đường nhìn. Vì lí do này, thế giới hiện hữu trong lớp phủ của bức tranh được nhận thức như sự tiếp diễn thẳng của không gian riêng tư trong mắt thị giả. Chủ thể nhận thức nằm trên cùng một đường thẳng với thế giới tranh, thứ đang đóng vai trò của một môi trường ổn định và tương đối bất động. Ngoài ra, phối cảnh «đẳng độ — chính diện» còn đưa các biến dạng về cực tiểu. Tất cả các bề mặt chính diện giữ được các kích thước và tỉ lệ khách quan của mình, bất chấp chúng đang đứng cách xa chủ thể nhận thức đến mức nào. (Bề mặt chính diện của khối lập phương sẽ cũng có kích thước giống hệt như mặt sau.) Các cạnh rìa lùi dần về phía xa cũng có thể còn giữ nguyên độ dài bằng kích thước thật hoặc có thể bị rút gọn theo một tỷ lệ không đổi, chẳng hạn ngắn đi một nửa. Nhờ có hiệu lực của tính khách quan, phương pháp này được ưu tiên không những đối với các người vẽ tranh lần đầu cầm bút chì, mà còn có lợi đối với các nhà toán học, kiến trúc sư và kỹ sư, những ai đòi hỏi các bức vẽ mà dựa vào đó, một hình dạng ba chiều và các kích thước của các vật thể rắn, các tòa kiến trúc hoặc máy móc có thể được tái tạo với độ chính xác phi thường. Cuối cùng, cần đánh dấu rằng, phối cảnh chính diện tăng cường hiệu ứng chiều sâu, bởi vì các biến dạng hóa ra là cần thiết hơn, khi một khung chính diện có mặt trong chính mô hình một cách rõ ràng, chứ không phải được ngầm hiểu nhờ vào sự vuông vắn của mặt phẳng tranh. Hình vuông chính diện của khối lập phương đóng vai trò nền móng hay như độ không của hệ tính toán, mà từ đó các cạnh nằm nghiêng tỏa đi sôi động.

Một môi trường vật dụng bất kỳ, được tái tạo trong phối cảnh chính diện, sẽ sở hữu xu hướng áp đặt kết cấu tương ứng vào những gì đang diễn ra bên trong nó. Một hình thù có thể được triển khai vào các dãy chính diện hoặc vuông góc với đường nhìn của chủ thể nhận thức. Tất cả điều đó sẽ truyền đạt cho bức tranh tính cách phẳng bẹt và yên tĩnh, phù hợp với hình ảnh các đám rước lễ hội và các nghi lễ tươi tắn, hơn là các sự kiện kịch tính.


Theo nguyên nhân này và các cân nhắc khác, hoạ sỹ luôn cố gắng có được một kết cấu, sao cho các trục chính của nó tiếp cận với không gian tranh trong thế nghiêng. Điều đó phần nào có thể đạt được mà không cần có thay đổi nào trong phương pháp phối cảnh bằng cách chuyển vị độ nét của đường viền mặt chính diện tới các mặt phẳng bị đẩy ra xa (hình 199a). Mặc dù cấu trúc không đổi, giờ đây kết cấu sẽ trở nên ít đơn giản hơn đáng kể về mặt tâm lý. Vẻ ngoài của đối tượng biến hoá vào chiều thứ ba, và nhờ có sự chuyển vị trọng âm, hình dạng chính diện được thay thế bằng hình dạng cạnh bên nằm nghiêng.

Trong những điều kiện mới này các mặt phẳng chính diện chỉ đóng vai trò thứ cấp, chúng được nhận thức như nguyên tố của một kết cấu đã không còn dùng được nữa. Nỗ lực nắm bắt sự chính diện là một điều lạc lõng, khi tư thế nghiêng thể hiện sự thống trị của định hướng. Suy ra, thuộc tính trực tiếp này của mặt phẳng tranh bị gỡ bỏ, và chúng ta tiến gần tới một hệ thống phối cảnh, mà mô phỏng của nó là hình 199b. Trong bức vẽ này, cả hai trục chính đều được triển khai theo đường chéo. Các góc vuông và những đường thẳng nằm ngang đều biến mất. Chỉ có những đường thẳng đứng là còn bảo toàn không gian của bức tranh, thứ đang có kết nối với mặt phẳng không gian của chủ thể nhận thức.

Tranh in khắc gỗ Nhật Bản thế kỷ XVIII. Nguồn: wiki

Hình thức phối cảnh «đẳng độ — nghiêng góc» như thế đã bộc lộ rõ ràng trong các tác phẩm khắc gỗ Nhật Bản của thế kỷ XVIII. Thị giả, thay vì nhận thức thế giới được thể hiện trong tranh một cách thẳng góc, thì họ lại hơi nghiêng đầu trong lúc ngắm nhìn nó. Các sự vật được thể hiện trong bản khắc dường như tiếp tục tồn tại độc lập trước chủ thể nhận thức, nếu giả sử như chiều đo lường thẳng đứng đã không bảo toàn được toàn bộ bối cảnh chính diện. Trong một hình thức rõ ràng hơn, tính bất thường này hiện hữu trong các hình thù người, và những hình thù này không bị rút gọn trong góc nhìn, không bị nhận thức từ phía trên, vì cấu trúc không gian đòi hỏi điều đó, và trong sự xuyên suốt của mình chúng giao cắt vuông góc với đường nhìn của thị giả, thành thử sẽ gợi nhớ rằng, trong trường hợp này (cũng như trong cả các hệ thống phối cảnh khác), việc chúng ta cần làm không phải là bắt chước thiên nhiên, mà là phát kiến ra một mô hình tăng trưởng dần dần từ các điều kiện nhận thức của hình ảnh hai chiều.

Ảnh chụp màn hình từ game «Hay Day»

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

23 Jan 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gian
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!