Nhiếp ảnh gia vĩ đại chụp cũng nhiều như nhiếp ảnh gia vĩ trung bình. Bù lại, người thứ nhất biết xóa ảnh theo cách vĩ đại.
MiukaFoto 
(born in 1972)

GỜ RA ĐIÊN

Độ nghiêng xiên, như chúng ta đã biết, tạo ra chiều sâu khi nó được nhận thức như sự sai lệch khỏi khung khuôn ngang dọc, bởi vì sự căng thẳng có thể được loại bỏ và sự đơn giản sẽ tăng lên khi độ nghiêng xiên được duỗi thẳng vào chiều thứ ba. Bước tiếp theo, chúng ta cần coi sự nghiêng xiên này như một trường hợp đặc biệt của một đặc tính tri giác rộng hơn, bằng cách khảng định rằng, sự nghiêng xiên sẽ tạo ra chiều sâu bởi vì đó chính là gradient. Khi liên tưởng một đối tượng nghiêng về mặt thị giác với các toạ độ tiêu chuẩn (hình 204a) chúng ta nhận thấy rằng, khoảng cách từ trục đứng hay trục ngang tới các cạnh tăng lên dần dần. Nếu nguyên tắc hội tụ có hiệu lực, chẳng hạn, trong phối cảnh trung tâm có thêm một gradient về kích thước, thì một sự thon vào từ hình dạng rộng hơn tới hình dạng hẹp hơn, sẽ nhận được trong chính hình thù (hình 204b).


Một gradient là sự tăng lên hay giảm đi dần dần dần của một chất lượng tri giác nào đó trong không gian và thời gian. James J. Gibson đã là người đầu tiên tạo ra ấn tượng chiều sâu bằng cách tạo ra quyền lực cho các gradient¹. Ông đã nhấn mạnh các gradient kết cấu hoạ tiết, như thay đổi dần dần tỷ trọng của hạt hoặc bóng đổ, những hoạ tiết thô thì tương quan với cái gì gần, còn những hoạ tiết mịn thì với những thứ ở xa. Mặc dù nhận ra rằng, các gradient tạo ra chiều sâu cho các hình thù rất tốt, ông vẫn nghĩ về điều đó như những "trừu tượng ma quái" của những gì quan sát được từ kinh nghiệm đời sống. Với giả định rằng, các gradient tạo ra chiều sâu trong hình ảnh bởi vì chúng cũng làm y hệt như thế trong nhận thức thế giới vật lý, ông đã tin tưởng rằng, những gradient hoạ tiết tả thực nhất, chẳng hạn, trong một bức ảnh chụp bãi biển đầy đá cuội, sẽ tạo ra chiều sâu hiệu quả nhất.

¹ J. Gibson, The perception of the visual world, Boston, 1950.

Victor Vasarely, Zèbre, Zebra, 1944. Nguồn: vasarely.staedelmuseum.de

Thực ra, điều ngược lại là gần đúng hơn. Những bản vẽ bằng những đường hoàn toàn hình học, như bàn cờ hội tụ, hay các kết cấu trừu tượng mạnh mẽ của hoạ sỹ Vasarely chứa đựng những gradient sâu thẳm nhất. Có điều đó là bởi vì tính hiệu quả của một gradient nhận thức đang phụ thuộc vào các khớp nối thị giác của hình mẫu. Gradient được thể hiện càng rõ ràng trong hình dạng, màu sắc, hay chuyển động, hiệu ứng chiều sâu càng thuyết phục. Lòng trung thành với thế giới vật lý không phải là một biến số cốt yếu.


Khi trong một đoạn phim hoạt hình có một đĩa nhỏ nở ra, nhận thức buộc phải lựa chọn giữa việc giữ nguyên hằng số khoảng cách và ghi nhận sự thay đổi kích thước, hoặc giữ nguyên hằng số kích thước và thay đổi khoảng cách. Khi cân nhắc những yếu tố của sự đơn giản đó với nhau, nhận thức chọn cách không tham gia vào phép thay thế đến sau. Nó biến đổi gradient hình chiếu của kích thước thành một gradient của khoảng cách. Bất kỳ một đặc tính nhận thức nào cũng có thể quy thành các gradient hình dạng. Hình 205 ở dạng sơ đồ đang chỉ ra một vài thứ trong số đó: khoảng cách từ khung khuôn ngang-dọc, kích thước của đối tượng, kích thước của các đoạn giữa. Bởi vì trong ví dụ này tất cả đều ứng xử theo một định hướng, chúng củng cố lẫn nhau. Dường như các gradient là nguyên nhân chính khiến chúng ta nhìn thấy các hàng cột điện báo, hàng rào, cây cối hoặc các hàng cột trụ đang diễn biến thành chiều sâu.


Gradient càng đều đặn, hiệu ứng càng mạnh. Một dãy miếng bìa carton bằng nhau tạo ra một gradient thuyết phục theo cách được mô tả trong hình 205. Nếu, tuy nhiên, những hình chữ nhật này được làm ra sao cho chúng khác nhau về kích thước một cách không đều đặn, khi đó sẽ có sự nhầm lẫn giữa kích thước và chiếu ảnh, cũng như giữa kích thước và số đo vật lý của các đối tượng, và vì thế gradient sẽ bị suy yếu hoặc thậm chí tan vỡ hoặc đảo nghịch (một người có thể thực nghiệm với một dãy các hình vuông có kích thước vật lý tăng lên nhanh chóng hơn hẳn so với kích thước chiếu ảnh của chúng lại giảm dần). Một cánh đồng với những hòn đá có kích thước lớn nhỏ khác nhau nằm rải rác có thể tạo ra loại gradient cục bộ này, trong khi hai cái ghế của Van Gogh trong hình 206 chỉ ra một hiệu ứng chiều sâu mạnh mẽ bởi vì chúng chẳng khác gì nhau ngoài kích thước và vị trí.

Gradient kích thước là một trong những công cụ đầu tiên để truyền tải chiều sâu trong hình ảnh. Trẻ em học được nhanh chóng rằng, khi các hình thù được làm ra lớn hơn, chúng sẽ có vẻ gần hơn. Công cụ này, cùng với gradient chiều cao — tạo tương quan giữa chiều sâu và khoảng cách chiều dọc tính từ đường chân móng của hình ảnh — đang vượt qua một chặng đường dài về phía thoả mãn của các đòi hỏi không gian. Georges Seurat trong bức tranh nổi tiếng nhất của ông, Chiều chủ nhật trên đảo Grande Jatte, đã tổ chức một thể khối cự ly bằng cách phân bố các hình thù có kích thước giảm dần vào toàn bộ trường hình ảnh. Những hình thù này không được sắp xếp thành hàng lối nhưng lại lan tràn không đều đặn dọc theo bề mặt. Các kích thước khác nhau đó có tính đại diện hơn là được phơi bày toàn diện, tuy nhiên, vẫn thấy một thang độ tiếp nối chạy từ tiền cảnh về hậu cảnh.

Các gradient tạo ra chiều sâu, bởi vì chúng tặng cho những thứ bất đẳng một cơ hội để nhìn có vẻ bình đẳng. Nếu các gradient trong hình 205 là hoàn hảo, chúng ta nhìn thấy các hình vuông có kích thước bằng nhau đứng cách đều nối tiếp nhau. Hơn nữa, bằng cách tạo ra chiều sâu, các gradient biến hoá độ dốc nghiêng của một hàng lối thành một sắp xếp ổn định hơn ở mặt phẳng nằm ngang. Như vậy là cực kỳ lợi ích trong việc đơn giản hoá trực quan.

«Độ dốc» của gradient xác định phạm vi của chiều sâu nhận thức được: nếu chúng ta xây dựng hai dãy hình vuông dài bằng nhau, thì dãy nào có độ chênh lệch kích thước giữa các hình vuông đầu tiên và cuối cùng nhiều hơn, sẽ tạo ra một viễn cảnh sâu hơn. Như chúng ta sẽ thấy, các gradient dốc đã từng được ưa thích bởi các hoạ sỹ Baroque, như Piranesi. Về mặt quang học, chúng có thể nhận được trong nhiếp ảnh và điện ảnh nhờ vào các ống kính tiêu cự ngắn.


Bất cứ khi nào kích thước thay đổi theo một tỷ lệ không đổi, người quan sát sẽ tương ứng nhìn thấy sự tăng trưởng vững bền về chiều sâu. Như vậy, hình 207a có thể được coi là một hàng rào thẳng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ biến thiên của gradient thay đổi, thì tỷ lệ của khoảng cách cũng thấy đổi phù hợp. Gradient trong hình 207b duỗi phẳng ra và dẫn đến kết quả cảm nhận là một hàng rào cong (mặc dù trong các hình thù này, việc bỏ mặc tất cả các loại gradient khác, như độ dầy của các vạch, khoảng cách giữa chúng, và định hướng trong không gian, đang cản trở lại hiệu ứng chiều sâu).

Tương tự, như James J. Gibson đã cho thấy, sự thay đổi đột ngột trong tỷ lệ sẽ tạo ra một nếp gấp giữa hai bề mặt có độ nghiêng khác nhau, và gián đoạn ở các thể liên tục của gradient sẽ tạo nên một khe hở hoặc nét gồ ghề trong thể khối chiều sâu. Một số hoạ sỹ và nhiếp ảnh gia ưu tiên sự dàn trải công bằng của không gian, và mượt mà dẫn dắt nó từ tiền cảnh đến hậu cảnh. Bằng cách ấy họ đạt được một khoảng lõm vào ổn định trong bố cục định hướng xiên. Những nghệ sỹ khác, cho tỷ phần trội hơn ở mặt chính diện, dùng những bước nhảy lớn — chẳng hạn, từ tiền cảnh tới hậu cảnh, và bằng cách ấy giữ lại tính nhị nguyên đơn giản của hình thù và phông nền. Với những bức chân dung truyền thống, ví dụ như Mona Lisa của Leonardo, mắt ta buộc phải nhảy cóc từ hình thù chính diện về phía cảnh quan ở nơi xa xôi.

Leonardo da Vinci, Chân dung nàng Mona Lisa (La Gioconda), sơn dầu trên gỗ, 77x53 cm, Bảo tàng Louvre, Paris, Pháp. Nguồn: leonardodavinci.net

Trong các bức tranh hội hoạ, vùng có tính xác định cao nhất — thường thấy nhất là tiền cảnh. Tiền cảnh của các bức tranh chiếm vị thế như một chuẩn gốc hay nền tảng, mà dựa vào đó các tính toán về khoảng cách được xem xét. Tất cả các lớp khoảng cách còn lại được nhận thức như một sự chênh lệch khỏi chính cái đó. Tuy nhiên, trong nhiếp ảnh người ta không đi theo truyền thống như vậy. Vùng rõ nét trong ảnh chụp là nơi được tư duy đòi hỏi. Trong các đoạn phim điện ảnh, vùng nét trong suốt diễn biến của một cảnh nào đó được xê dịch theo sự thay đổi khoảng cách tính đến đối tượng quan trọng nhất và có giá trị nhất. Như vậy, cơ sở không gian có thể được thiết lập ở khoảng cách bất kỳ trong khuôn khổ của chiều thứ ba, còn gradient, có khả năng làm mềm mại hoá diện mạo của đối tượng nhận thức, sẽ buộc tất cả các lớp còn lại chênh lệch khỏi cơ sở này, lúc thì về phía sau, lúc thì về phía trước. Theo cách đó, tại một điểm trên bề mặt kim tự tháp có được bằng phối cảnh, một trung tâm mới sẽ hình thành — trung tâm bố cục không gian thứ cấp.

Chúng ta đã nhận thấy rằng các gradient hỗ trợ sự bất biến của kích thước. Nếu có các khoảng trống trong gradient, tính không đổi này có xu hướng tan vỡ kể từ khi nó không tự đến, nhưng cần được tạo ra bằng các yếu tố thị giác. Các hình thù ở cảnh quan xa xôi nhìn có vẻ không giống với nhân vật của bức chân dung ở tiền cảnh; và khi chúng ta nhìn xuống từ một toà tháp hoặc từ máy bay, sự vật không bao hàm ý nghĩa gì về kích thước tự nhiên của chúng. "Một đám mây đang nổi lên ngoài biển như bàn tay người'' — Kinh Thánh có câu nói như vậy.

Những gì đã đang được chỉ ra có ở gradient kích thước cũng là đúng luôn đối với các yếu tố tri giác khác, chẳng hạn, đối với các gradient chuyển động. Cũng giống như các khoảng cách không gian giảm dần giữa các hình vuông (hình 205) hay giữa các cột điện báo, thì vận tốc của một đối tượng trong phim hoạt hình cũng cần «chậm» dần nếu đối tượng được nhìn thấy như đang chuyển động ra xa với tốc độ không đổi. Gradient theo chuyển động còn tăng cường hiệu ứng chiều sâu khi chúng ta ngắm nhìn cảnh quan từ ô tô đang chạy. Nhà cửa và cây cối ở tiền cảnh sát đường «bay» ngang qua nhanh hơn nhiều so với những thứ ở phía xa, và sự khác biệt trong vận tốc bề ngoài tương quan với cự ly tới những gì chúng ta nhìn. Những đối tượng ở phía chân trời (như nhà cửa trên đồi, các đám mây hay mặt trời), sẽ chuyển động cùng với chủ thể đang ngắm chúng, trong khi tất cả những gì nằm giữa chân trời và tiền cảnh lại vọt về phía sau. Trong ý nghĩa này, chuyển động bao hàm nguyên tố biến dạng tuần tự của vị trí đối với toàn bộ phần còn lại của thế giới được nhận thức thị giác. Trong quan điểm nhận thức, sự biến dạng có tính bạo lực này được biến đổi thành một biểu trưng thị giác thế giới quan lược giản của hình dạng cứng, quay theo đường nghiêng như một cái gì đó tổng thể. Chính hiện tượng này đối với các đối tượng đơn độc đã được nghiên cứu bởi Hans Wallach. Trong các thực nghiệm mà ông đã tiến hành, những người chơi đã quan sát bóng đổ của một vật nào đó tự quay phía sau màn hình. Khi đó, hoặc là vật này sẽ được nhận thức là hoàn toàn bất động nhưng thay đổi diện mạo trong tuần tự nhịp nhàng, hoặc là vật thể có hình dạng cứng có vẻ như đang quay quanh trục của mình. Những kết quả của thực nghiệm này đã cho phép rút ra một kết luận: điều gì diễn ra trong lúc đó phụ thuộc vào việc, quyết định nào sẽ tạo ra kết cấu đơn giản nhất.

Một minh họa cho thấy, cảm giác của mắt người về chuyển động là mơ hồ. Chúng ta lúc thì thấy các vệt trắng-đỏ đang chạy thẳng lên, lúc thì thấy lõi này đang quanh quanh chính mình. Nguồn: wiki

Các gradient tăng cường hiệu ứng chiều sâu, khi chúng được nhận thức như các biến dạng. Sự biến dạng sẽ được nhận thức trong trường hợp, khi một mô hình này là chênh lệnh của một mô hình khác, đơn giản hơn thấy được rõ ràng trong mô hình đã được biến dạng. Hình 205 có vẻ như là biến dạng của một dãy nằm ngang của các hình vuông đồng kích thước. Nếu giả sử góc nghiêng của dãy này ít rõ ràng hơn và, sự khác biệt hình dạng tạo ra sự giảm dần của kích thước là ít rõ rệt hơn và, sự sát lại của khoảng cách giữa các hình vuông ít từ từ hơn, thì khi đó sự chênh lệch khỏi mô hình đơn giản hơn, tương ứng, dường như là khó thấy hơn. Nói cách khác, sự biến dạng nói chung của mô hình dường như là ít đơn giản hơn.

Phối cảnh khí quyển dựa vào các gradient theo độ sáng, độ bão hoà màu, độ nét, hoạ tiết, và một số biến chuyển màu. Trong tự nhiên có hiện tượng này là bởi vì thể khối của khí quyển tăng dần lên theo khoảng cách tới các đối tượng nhận thức. Tuy nhiên, phối cảnh khí quyển có hiệu quả trong môn vẽ, không hoàn toàn chỉ bởi vì chúng ta biết rằng nó chỉ ra sự mở rộng của khoảng cách trong tự nhiên. Ngược lại, những khung cảnh trong tự nhiên đó là sâu thẳm nhờ có các gradient tri giác mà chúng tạo ra. Các nhiếp ảnh gia đều biết rằng, thang độ nét chạy từ điểm mờ đến điểm nét biết uốn nắn ra một thể khối của đối tượng một cách thuyết phục, mặc dù các thuỷ tinh thể đa tiêu cự của mắt chưa bao giờ cho chúng ta những trải nghiệm như thế. Trong ảnh chân dung, chẳng hạn, thể khối của phần đầu có thể nổi bật lên khi đôi mắt của cô gái nằm trong vùng nét, còn đôi tai hay đầu mũi lại hơi mờ.

Rembrandt van Rijn, Self-portrait with plumed beret, oil on oak panel, 89.7cmx73.5cm, Isabella Stewart Gardner Museum, Boston, USA. Nguồn: wiki

Một trong những phương pháp mà ánh sáng đang dùng để tạo ra chiều sâu, — đó là các gradient độ sáng và độ chiếu sáng. Điểm cực đại của độ sáng và độ chiếu sáng xuất hiện ở nơi gần với nguồn sáng nhất hoặc thậm chí trùng với nguồn sáng. Như vậy, việc chiếu sáng thiết lập ra chìa khoá của khoảng cách không gian, và điều đó hoàn toàn không nhất thiết phải đặt ở tiền cảnh. Để làm điều đó, Rembrandt đã sử dụng bất kỳ chỗ nào trong khi gian tạo hình. Từ vị trí cơ sở này, gradient của độ chiếu sáng được tăng cường sẽ lấp đầy không gian không những về phía thị giả hay từ phía thị giả, mà còn theo hướng bên cạnh. Ánh sáng tạo ra gradient dạng cầu, lan truyền vào không gian theo mọi hướng từ cơ sở đã chọn.

Không phải tất cả các gradient đều tạo ra chiều sâu. Trong các bức vẽ của Rembrandt người nào đó có thể nhìn thấy rằng, một thang độ ánh sáng, dẫn từ phần chói loà gần nguồn sáng cho đến tận phần tối đen vẫn không tạo ra hiệu ứng chiều sâu thường lệ của nó, khi nó nở rộng ra như hào quang toả về mọi hướng xung quanh trung tâm. Trong trường hợp đó, hình mẫu chính diện không được xem như là hình chiếu của một hình mẫu đơn giản hơn trong chiều sâu. Điều tương tự cũng đúng, chẳng hạn, đối với gradient theo độ xiên. Trong một bức tranh vẽ mẹo của René Magritte, "Euclidean Promenades," các cạnh xiên của một đại lộ được đặt bên cạnh một tháp chuông với hình dạng giống hệt, và trong khi đại lộ này thoái trào vào chiều sâu thì tháp chuông lại không tạo ra cảm giác tương tự.

Euclidean Promenades by René Magritte, 1955. Oil on canvas, 64" x 51". The Minneapolis Institute of Arts, Minneapolis, MN. Nguồn: wiki

Các gradient kích thước như hình 205 sớm muộn cũng dẫn dắt đến một điểm hội tụ mà hình mẫu của chúng ta dường như chạm tới nếu các hình vuông và khoảng cách giữa chúng là nhỏ dần đều. Điểm hội tụ này nằm ở vô cực trong không gian hình ảnh. Đó là một điểm mất hút của phối cảnh trung tâm và hầu như nằm ở đường chân trời. Thực ra, thang độ các hình vuông của chúng ta là một góc hẹp của thế giới hình ảnh được xây dựng theo nguyên tắc phối cảnh trung tâm.


Cần nói thêm vài lời về hiện tượng thị sai của đôi mắt. Chúng ta mô tả tư duy này bằng hình 200. Nếu cả hai mắt (а và b) đều nhìn đến hai điểm cố định (c và d), thì chúng nhận được các biểu trưng thị giác khác nhau, bởi vì các góc nhìn từ chúng tới các điểm này là không giống nhau. Các biểu trưng thị giác được chỉ ra trong các vòng tròn chấm chấm (е và f). Mỗi một biểu trưng (trong số đó) đang tự nỗ lực xuất hiện trong mặt phẳng chính diện (chỉ cần nếu không bị can thiệp bởi các yếu tố nhận thức khác). Nhưng khi cả hai biểu trưng được nhận thức đồng thời, thì sự khác biệt trong các khoảng cách giữa các điểm sẽ gây ảnh hưởng tới trở ngại mạnh mẽ cho việc hợp nhất của chúng. Chỉ trong các điều kiện của chiều đo lường thứ ba, sự khác nhau trong độ chéo-xiên-nghiêng mới có thể bù trừ được sự khác biệt trong khoảng cách này và bằng cách đó hai mô hình sẽ hợp nhất thành một biểu trưng thị giác. Như vậy, sự hợp tác chung của hai mắt được liên kết lại theo cách đơn giản nhất có thể có.

Khi chúng ta nhìn vào một bức tranh hội hoạ hay một bức vẽ đồ hoạ bằng cả hai mắt, các biểu trưng thị giác mà chúng ta nhận được là giống hệt nhau. Đặc tính sinh lý này đang ủng hộ sự hình thành của nhận thức hai chiều trong mặt phẳng chính diện. Nếu hoạ sỹ mong muốn đạt được ấn tượng chiều sâu, họ cần trung hoà xu hướng phẳng hoá này nhờ vào các yếu tố nhận thức khác. Cái nhìn bằng một mắt sẽ loại bỏ chiều sâu của không gian vật lý nhưng, ngược lại, sẽ cường kích chiều sâu của bức tranh.

The Moon. Bãi Cháy, Hạ Long, VN, 2013

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

18 Jan 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gian
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!