Nghệ thuật — đó là khi biết cách làm ra một thứ gì đó từ không có gì và bán nó.
Frank Vincent Zappa 
(1940 - 1993)

KINH NGHIỆM QUÁ KHỨ VÀ CẢM GIÁC MÔ CƠ

Tại sao tôi lại thấy mặt bàn làm việc của tôi như một hình chữ nhật, thậm chí nếu các biểu trưng hình chiếu từ nó trong mắt tôi là các dạng thức khác nhau của hình thang? Thông thường thì cần trả lời rằng, tôi biết được theo kinh nghiệm quá khứ, hình dạng như thế nào có ở một cái mặt bàn trong thực tế. Lợi ích nào cho một giải thích như vậy?

Rõ ràng, bất kỳ nhận thức nào về hình dạng của các đối tượng, quá khứ hay hiện tại, trong kết quả cuối cùng cần được kết tinh từ các số liệu nhạy cảm. Tuy nhiên các cảm xúc không sở hữu kiến thức trực tiếp về hình dạng «đang thực chất tồn tại». Tất cả những gì mà mắt chúng ta có thể dựa dẫm vào, đó là những mô hình hình chiếu in trên võng mạc. Mà những mô hình này tùy thuộc vào góc nhìn và khoảng cách tới đối tượng để đề xuất một tập hợp lẫn lộn của các hình thù khác nhau. Vậy thì khi đó bằng cách nào mà chúng ta có thể chọn được một hình dạng «đúng» từ số lượng khổng lồ này? Có lẽ chúng ta có thể khảng định rằng, tôi đang nhìn thấy hình dạng của hình chữ nhật thường xuyên hơn hẳn, so với những hình thù hình học khác, bởi vì trong trường hợp này đường nhìn của tôi dường như luôn luôn vuông góc với bề mặt của đối tượng.

Như vậy, liên tưởng đến sự tái diễn là không chứa đựng một câu trả lời đúng. Đôi khi người ta khảng định rằng, một hình dạng đúng — đó là trung bình cộng của tất cả các hình chiếu khác nhau nhận được từ một đối tượng cho trước. Nói cách khác, nếu cộng hợp tất cả các hình thang sai, thì chúng ta dường như tạo thành một hình chữ nhật như một đại lượng trung bình. Thuyết này không đòi hỏi một hình chữ nhật phải được nhận thức trực tiếp thường xuyên hơn các hình thù còn lại, hoặc thậm chí cũng không đòi hỏi nó phải được nhận thức nói chung. Tuy nhiên ý niệm này lại đang đề xuất rằng, tất cả các hình chiếu đang phân bố theo cách đối xứng chính xác xung quanh một hình chiếu «đúng», nhằm bù trừ sự sai lệch của tất cả các hình chiếu còn lại. Quan điểm này, bất chấp việc nó đang tính đến một số lượng lớn các quan sát được rút ra từ kinh nghiệm nhận thức, tuy nhiên vẫn chỉ là một đề xuất.

Cũng đang tồn tại một phản biện đáng thuyết phục hơn chống lại thuyết điểm đó, vứt bỏ tất cả những lý lẽ đã nêu như những thứ thừa thãi. Phản biện này lĩnh hội một tư duy cho rằng, điều gì được chúng ta nhìn thấy từ lúc đầu chính là các mô hình hình chiếu hai chiều được định hướng chính diện, và từ đó một mô hình được chọn ra theo một cách nào đó. Nhưng khảng định này — một chức năng thuần túy. Đề xuất cho rằng, nhận thức của ai đó được bắt đầu từ các hình chiếu như vậy, chưa được xác nhận một cách độc lập tách khỏi một dữ kiện: đã có các thực nghiệm với con người hay muông thú, với người già và trẻ em hay chưa? Những người mù bẩm sinh và sau đó chữa được thị giác thì vào các giai đoạn đầu đã phải đối mặt với khó khăn trong việc nhận biết hình dạng, nhưng không có bất cứ một số liệu nào chỉ ra nhận thức của họ đối với các hình chiếu phẳng. Chắc có lẽ, lý giải này xuất phát từ một hình dung không đúng cho rằng, dường như mọi hành vi của nhận thức đều được dựa trên tính phẳng bẹt của một biểu trưng nhận được trên võng mạc. Các dữ kiện đang chỉ ra một điều ngược lại. Mỗi lần nhìn vào một đối tượng như thế, như mặt bàn, con người nhìn thấy một thứ, không phải là hình thang nằm chính diện, mà trước hết là một hình chữ nhật trong tư thế nằm nghiêng. Chủ thể nhận thức càng ngây thơ, tư thế này càng là chân lý. Giáo dục chuyên sâu có thể gây ảnh hưởng đến nhận thức của con người, nhờ đó họ sẽ có khuynh hướng nhận thức sự vật thiên về phẳng bẹt hơn. Nhưng thậm chí trong cả trường hợp này, sự biến dạng sẽ luôn luôn được bù trừ ở mức độ giống hệt như khi, các hoạ sỹ của thời Phục hưng đã buộc phải sáng tạo ra các phương cách chuyên dụng để đạt được những hình chiếu hoàn hảo trong các tác phẩm của mình.

Bởi vậy, điều cần được giải thích chỉ là, có lẽ, — hình dạng được trực tiếp đưa ra trong không gian ba chiều. Nhận thức không gian gọi ra cái gì? Thường thì điều đó có liên quan tới các yếu tố, như sự hội tụ, thị sai mắt kép và sự điều tiết. Sự hội tụ chỉ ra một dữ kiện rằng, góc gặp nhau của các đường nhìn của cả hai mắt phụ thuộc vào khoảng cách từ đối tượng tới chủ thể nhận thức. Các nhà tâm lý học khảng định rằng, chuyển động quay của nhãn cầu diễn ra trong quá trình hội tụ được xác định bằng áp lực trong các cơ bắp giữ mắt trong hốc mắt. Thị sai mắt kép có nghĩa là, hai mắt nhận thức những biểu trưng hình chiếu khác nhau, bởi vì chúng nhìn từ các điểm quan sát khác nhau. Đối tượng ngắm nằm càng gần, sự khác biệt quan sát được giữa hai hình chiếu càng lớn, và cũng chính điều đó đang thể hiện chỉ số của khoảng cách. Cuối cùng, sự điều tiết nói đến độ cong của thuỷ tinh thể luôn luôn thích nghi với khoảng cách tính đến đối tượng nhận thức để tạo ra một hình ảnh rõ nét trên võng mạc. Kinh nghiệm cơ bắp đối với các cảm giác thay đổi độ cong thuỷ tinh thể và đối với nhận thức thị giác về những đốm mờ — lại cũng có thể được coi là chỉ số khoảng cách. Đang tồn tại cả những yếu tố khác, tương tự.

Nhưng hiệu quả của những chỉ tiêu này đã được đánh giá quá cao. Tuy nhiên quả thật, ít nhất là trong khuôn khổ hạn hẹp của một căn phòng, nhận thức mắt kép tăng cường đáng kể hiệu ứng chiều sâu. Chúng ta buộc phải so sánh một ảnh chụp hay một bức tranh được sáng tác trong phong cách tả thực với những gì chúng ta nhìn thấy khi ngắm các sự vật nằm trong không gian vật lý, hay khi ngắm qua ống ngắm stereo. Tuy nhiên ở đây sẽ hoàn toàn là thiếu sót nếu chỉ chỉ ra rằng, bộ não có các công cụ để đo độ xa của đối tượng. Câu hỏi, mà chúng ta cần trả lời, được đặt ra như sau: điều gì trước tiên khiến chúng ta cảm giác được không gian? Nhiệt kế chỉ ra nhiệt độ một cách trực quan dựa vào chiều cao của cột thuỷ ngân, nhưng điều đó lại chẳng đề cập gì đến cảm giác ấm áp hay lạnh giá.

Chuyến tàu 19:00. Hà Nội 8/2018. Olympus M1, 35mm f2 MC.

Ở một mức độ nào đó, vấn đề này đã được Merleau-Ponty¹ làm sáng tỏ. Các nhà tâm lý học, — ông khảng định, — họ đang nói về chiều sâu nhận thức như về «một chiều rộng, mà người ta nhìn vào đó như một mặt cắt», có nghĩa về sự nổi khối khách quan đang có, mà hoá ra chủ thể nhận thức nhìn vào từ một góc nhìn không thuận tiện. Thế nên chỉ còn cần giải thích được, bằng cách nào mà một thị giả, bất chấp đang đứng ở một vị trí bất tiện, vẫn nhận thức được đúng khoảng cách. Thay vào đó cần giải thích sự có mặt của chính dữ kiện nhận thức nổi khối. Ngoài các chỉ tiêu nhận thức không gian đã được liệt kê, chúng thường còn được bổ sung bởi cả xúc giác. Chiều sâu và khối nổi được chúng ta nhận thức không chỉ bằng thị giác. Khi giao cắt với không gian, chúng ta còn sờ các đối tượng, và bằng cách đó có được thông tin, — các người ủng hộ quan điểm này nói, — đáng tin cậy hơn nhiều, so với thông tin nhận được từ quá trình nhận thức thị giác. Trong khi mắt chạy theo những tỷ lệ bị biến dạng từ các vật thể ở xa, cơ thể của chúng ta lại có thể tiếp xúc trực tiếp với chính các đối tượng và tiếp cập tới chúng trong không gian ba chiều. Nó nhận được thông tin từ «người dùng đầu tiên» theo đúng nghĩa đen. Vì thế có thể đề xuất rằng, xúc giác tiếp nhận chiều sâu và sự nổi khối trong kích thước chuẩn xác của chúng và điều chỉnh những hình dung sai lầm nhận được từ kết quả nhận thức thị giác.

¹ М. Мerleau-Pontу, Phonomenologic de la perception, Paris, 1945, p. 294—309.

Quan điểm này là cơ sở cho nhiều nỗ lực giải thích các hiện tượng thị giác (và thính giác) như một kết quả của các nhận thức có tính vận động. Nhưng tôi vẫn hình dung rằng, một cái nhìn như thế là không đáng tin, bởi vì xúc giác liên kết não bộ với thế giới vật lý không trực tiếp hơn gì thị giác. Rõ ràng là, giữa đôi mắt và một hộp xì gà mà chúng đang nhìn tới đang tồn tại một khoảng cách vật lý, trong khi các bàn tay và cái hộp này lại đang tiếp xúc với nhau. Nhưng não không khai thác được lợi ích gì từ điều đó. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào các cảm giác xuất hiện trong các cơ quan nhạy cảm của chúng ta. Khi tay của chúng ta vừa bắt đầu mò mẫm hộp xì gà, thì trong da, những cái được gọi là «tế bào xúc giác» ngay lập tức được kích thích độc lập với nhau. Biểu trưng xúc giác của một bề mặt, hình dạng hay góc cần được não bộ sắp xếp theo đúng cách mà biểu trưng thị giác xuất hiện từ hàng loạt các kích thích trên võng mạc. Cả kích thước, cả khoảng cách vật lý đều không được đưa ra khi tiếp xúc với các đối tượng trong hình dạng trực tiếp. Tất cả những gì não nhận được, — đó là thông tin về sự co dãn mô cơ diễn ra khi tay duỗi góc hoặc gấp góc. Khi tôi đi lại trong phòng, não tôi được báo cáo về một chuỗi chuyển động cơ học của chân nối tiếp nhau theo thời gian. Không có không gian nào được bao hàm trong bất kỳ cảm giác nào từ số này. Để cảm nhận được không gian theo cách vận động, não cần tạo dựng nó trong chính mình từ số liệu thông tin nhạy cảm, mà thông tin đó không lẽ nào lại có không gian tính. Nói cách khác, vận động cũng phải đối đầu với một nhiệm vụ y hệt như nhiệm vụ của nhận thức thị giác. Hiểu được chuyển động diễn ra như thế nào là việc vẫn thường khó đến nỗi, như tôi được biết, chưa từng có nhà tâm lý học nào dám nỗ lực đưa ra lời giải đáp. Không có bất kỳ hoài nghi nào rằng, các cảm giác — có được nhờ các cơ quan xúc giác, các mô cơ, các giây chằng và gân, — đang đóng góp một phần không thể đánh giá được vào hình dung của chúng ta về không gian. Tuy nhiên nếu có ai định né tránh các vấn đề liên quan tới những quá trình nhận thức thị giác ánh xạ tới cảm giác vận động, người đó đang nhảy từ lửa vào chảo lửa.

Các thực nghiệm đã được tiến hành đã chỉ ra rằng, nếu chủ thể nhận thức đã biết trước hoặc nghĩ là đã biết trước kích thước của đối tượng, thì sự nhận biết của người này sẽ gây ảnh hưởng tương ứng tới nhận thức đại lượng của đối tượng cũng như khoảng cách hình dung. Nhưng điều đó dường như là khả thi chỉ khi nào một số yếu tố nhận thức tương ứng là đã được loại bỏ cẩn thận. Một đĩa tròn phát sáng trong đêm có vẻ như là nhỏ bé hơn và gần gũi hơn, khi người ta nghĩ về nó như quả bóng bàn.

Figure 166a

Và ngược lại, nó có vẻ là to lớn và nằm ở xa, nếu người nhận thức đặt giả thuyết rằng, trước anh ta là một quả billiard. Mô hình hình chiếu thỏa mãn cả hai phương án ở mức độ như nhau. Nhưng sẽ không có bất cứ kiến thức nào về việc, đối tượng đang là cái gì, là to hay nhỏ, là gần hay xa, nếu chúng được ước lệ bằng các yếu tố nhận thức. Ví dụ về sự méo mó của căn phòng (hình 166a) đã được chúng ta sử dụng để chỉ ra rằng, chúng ta đang nhìn thấy một căn phòng theo cách quen thuộc, bất chấp việc nó đang có hình dạng như thế nào trong thực tại. Nhưng không có một đề xuất nào về sự vuông vắn có thể gọi ra hiệu ứng đó, nếu căn phòng được thiết kế sao cho mô hình hình chiếu của nó là biến dạng của một hình hộp chuẩn. Thực nghiệm cũng chỉ ra rằng, các kích thước của cơ thể người không được nguyên tắc của sự đơn giản trong nhận thức tính đến (yếu tố này càng thông dụng, nó càng quan trọng về mặt sinh học). Có điều đó là bởi vì, trong biểu trưng thị giác về con người không có một cái gì đó dường như đòi hỏi kích thước phải chính xác như vậy. Biểu trưng nhận thức thị giác không có bất kỳ chống đối nào với sự thay đổi rõ rệt về kích thước. Trong số các thực nghiệm có kết quả gây hoài nghi về việc cho rằng, nhận thức về chiều sâu — đó chỉ là vấn đề của kiến thức và kinh nghiệm, có thể bóc tách ra các thí nghiệm ² của Carol B. Hochberg và Julian E. Hochberg. Một màn hình (hình 1.1) là dạng hình ảnh kép, có nghĩa, các khung bên trái hay bên phải của nó có thể được nhận thức là nằm ở phía trước nhau. Khi chúng ta quan sát mô hình này, có thể có hai phương án hình ảnh.


² Carol Barnes Hochberg & Julian E. Hochberg (1952) Familiar Size and the Perception of Depth, The Journal of Psychology, vol. 34, p. 107-114

Người làm thực nghiệm có thể bằng cách nào đó tăng thời lượng mà trong lúc đó mỗi khung được nhận thức là nằm ở phía trước. Điều gì sẽ xảy ra, nếu thêm vào mỗi khung một hình người? Căn cứ vào hình 1.1b, khung bên phải, theo lý thuyết tính đến yếu tố kinh nghiệm quá khứ, sẽ có vẻ trong phần lớn các trường hợp là nằm gần hơn tính đến chủ thể nhận thức, bởi vì chúng ta biết rằng, hình thù càng lớn, nó càng nằm ở gần hơn. Theo các lý do nhận thức, cũng có thể chờ đợi đúng kết quả như thế, bởi vì một đối tượng có kích thước lớn — thì cho dù là cậu bé hay hình chữ nhật — đều có khuynh hướng nằm ở vị trí gần hơn tính đến người nhận thức (khung chứa cậu bé nhỏ có vẻ như là lớn hơn khung chứa cậu bé lớn, vì cả hai hình thù đều là một cậu bé). Hai kết cục này có vẻ là giống như nhau, nhưng do cả hai thuyết đó đều dự đoán ra một và chỉ một kết luận, nên thực nghiệm này không đưa ra một câu trả lời thiên về lợi ích của ý tưởng nào trong hai số đó. Một tình huống hoàn toàn khác là hình 1.1a. Trong ví dụ này, thuyết kinh nghiệm quá khứ đưa ra khả năng đề xuất rằng, khung hình chứa cậu bé sẽ được nhận thức trong phần lớn các trường hợp là nằm ở phía trước, bởi vì khi bố và con được thể hiện trong cùng một kích thước, thì ông bố cần phải lùi về phía sau. Trong quan hệ nhận thức, chắc có lẽ, chúng ta sẽ không đưa ra một sự thiên vị nào cho một trong hai khung, bởi vì cả hai đối tượng này có kích thước như nhau, giống như trong thực tại.

Vậy làm thế nào để cuộc thảo luận về những quy luật tâm lý này có thể trở thành có ích cho một hoạ sỹ? Theo toàn bộ xác suất, nghệ sỹ ít khi rút ra lợi ích cho mình từ điều khảng định rằng, nhận thức không gian là dựa trên kinh nghiệm về quá khứ. Trong sáng tạo nghệ thuật, hoạ sỹ hầu như không coi trọng việc người khác biết gì về tâm lý nhận thức. Các khả năng sáng tạo sẽ mách bảo cho họ biết rằng, bất kỳ kiến thức nào cũng cần được thông dịch thành một hiện tượng nhận thức thị giác, và rằng, kết quả và các dạng thức của hiệu ứng không gian mà họ có được trong tác phẩm của mình sẽ phụ thuộc vào cách họ sử dụng kích thước, giải pháp màu sắc, diện mạo bề ngoài, định hướng. Các bài tiếp theo của của chương «không gian» sẽ hoàn toàn là dành riêng cho vấn đề này.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

15 Jan 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gian
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!