Một nghệ phẩm là một mô hình dừng lại của một thế giới bất tận.
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)

MÔ HÌNH CỦA KHU VỰC THỊ GIÁC NÃO

Cho đến lúc này, tôi đã sử dụng khái niệm mô hình chính diện (hai chiều) như một cơ sở. Tôi đã cố gắng trả lời cho câu hỏi, những tính chất nào cần có ở một mô hình sao cho có thể nhận thức được khuynh hướng tiến tới thế nghiêng trong không gian ba chiều. Phương pháp này dùng để xác định, những nét đa dạng nào của các hình thù tạo hình trong một bức vẽ hay một bức tranh tạo nên hiệu ứng đó. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu đề xuất rằng, trong các quá trình tâm sinh lý của nhận thức, một mô hình hai chiều cũng có sự ưu tiên tương tự. Và dù sao đi nữa điều này vẫn luôn được làm ra rất thường xuyên vì một lý do sau đây. Không phụ thuộc vào việc, vật thể có là nổi khối hay phẳng bẹt về mặt vật lý hay không, chúng nằm vuông góc hay nghiêng góc, khi chúng ta nhìn vào nó, nhận thức luôn dựa trên các biểu trưng thị giác của đối tượng này, được chiếu hình lên võng mạc nhờ thuỷ tinh thể. Võng mạc là một bề mặt hai chiều, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng không phải là mặt phẳng nằm ngang, bởi vì nó là một phần của bề mặt bên trong của nhãn cầu và, suy ra, bề mặt của nó mang tính cách mặt cầu, chứ không phải phẳng.

Nhưng tuy nhiên đây vẫn là một bề mặt, và tất cả các biểu trưng thị giác được thể hiện trên võng mạc đều là hai chiều giống như một bức tranh được vẽ trên đáy chén. Bởi vậy có thể thường xuyên nghe thấy một lời đồn đại rằng, bất kỳ một nhận thức thị giác nào cũng được bắt đầu từ các hình chiếu hai chiều. Một hình dung như thế là không đáng tin cậy. Hình thức biểu trưng, được ấn tượng hoá trên võng mạc, chỉ chịu ảnh hưởng trong trường hợp, nếu các quá trình kích thích diễn ra bên trong bề mặt là nằm trong tương tác của chúng với nhau. Ý nghĩ này có thể được mô phỏng bằng phép so sánh sau đây. Hãy thử tưởng tượng hàng loạt các trạm điện thoại, trong mỗi trạm đều có người đang nói chuyện. Nếu các trạm điện thoại đứng sát gần nhau và trộn lẫn các cuộc đàm thoại lại, sao cho ở cuối mỗi đầu dây bên kia người ta nghe thấy hỗn hợp ồn ào của âm thanh vô tổ chức, thì trong trường hợp này đúng là cần suy nghĩ nghiêm túc về sự thay đổi sắp xếp không gian của các trạm. Nhưng bởi vì sự trộn lẫn như vậy không diễn ra, nên việc các trạm điện thoại có đứng gần nhau theo đường chim bay hay đường vòng hay không, hoặc chúng có cách xa nhau vạn dặm đi chăng nữa, vẫn là không đáng kể. Điều này, như chúng ta đã biết, là năng lực của các thụ thể võng mạc — các tế bào hình que và hình nón. Mỗi một cá thể từ những thụ thể đơn độc nhỏ bé này hoặc các nhóm thụ thể được kích thích độc lập bằng một điểm của biểu trưng thị giác. Nhận được thông tin thị giác tơi mịn này, thụ thể võng mạc trở thành một thứ không khác gì một trạm trung chuyển, nơi ánh sáng biến thành các xung lực thần kinh. Tuy nhiên việc tất cả các trạm chuyển đổi này đều nằm trên bề mặt chung, và, bề mặt này có hình dạng như thế nào, không hề gây tác động lên các kích thước không gian có được trong kết quả nhận thức.

Có thể cho rằng, tương tác trong không gian này như trong một tổng thể diễn ra tại một phần nào đó của não bộ, nơi các kích thích võng mạc được chiếu tới bằng thần kinh quang học. Đó là một phần của vỏ của não bộ, được biết đến phổ biến dưới tên gọi khu vực thị giác của vỏ não bộ. Mỗi một điểm đặc biệt tính cách của điều mà chúng ta đang nhận thức đang có ánh xạ tương ứng trong cơ quan này. Bởi vì nhận thức nắm bắt ba phép đo lường, nên tương ứng, ba phép đo lường cũng cần hình thành trong cả vỏ não bộ. Những phép đo lường này không nhất thiết cần phải có không gian tính theo bản chất của mình. Và cũng như tất cả các quan hệ không gian trong nhận thức không nhất thiết cần phải có bản sao chính xác tới não bộ. Tuy nhiên trong các mục đích của chúng ta, sẽ là thuận tiện hơn nếu cho rằng, điều đó đang diễn ra chính là như thế. Theo W. Кohlеr và D. A. Emery, «dường như chỉ có ít người ủng hộ cho một ý tưởng, cho rằng các đối tượng, xuất hiện ở những khoảng cách khác nhau tính từ chủ thể nhận thức, được giới thiệu bằng các quá trình diễn ra trong trong vỏ não bộ ở các lớp mức độ khác nhau; một số quá trình này diễn ra gần với bề mặt vỏ não, còn một số khác diễn ra trong các lớp sâu thẳm hơn. Tuy nhiên theo quan điểm thực dụng, chắc có lẽ, không tồn tại một tác hại nghiêm trọng nào trong việc điều hành một bức tranh có ngụ ý, sao cho chính xác đưa ra một sơ đồ cấu trúc liên kết tô pô của phép đo thứ ba trong khu vực thị giác của não bộ»¹.

¹ W. Кohlеr and D. A. Emery, Figural aftereffects in the third dimension of visual space. «American Journal of Psychology», 1947, vol. 60, p. 176.


Chúng ta đã phác họa khu vực thị giác của vỏ não bộ như một khu vực không gian ba chiều, trong đó, khi các kích thích vừa xuất hiện sẽ lập tức trở thành biệt lập, và theo nguyên tắc tự do sẽ tiếp nhận một cấu hình không gian bất kỳ — phẳng bẹt hay nổi khối, chính diện hay đặt nghiêng. Không tồn tại sự ưu tiên nào ở đây. Tuy nhiên các kích thích sẽ bị giới hạn sự tự do của mình vì một hoàn cảnh quan trọng: chúng không thể chênh lệch ra khỏi mô hình hình chiếu có trên võng mạc. Để mô phỏng cho luận điểm này, tôi sẽ tận dụng một công cụ tinh xảo mà người Trung Hoa đã dùng để làm các phép tính số học, có dạng khung làm từ các sợi dây luồn xuyến được căng ra song song với nhau, có nghĩa bảng tính. Dù mạo hiểm bị liệt vào sổ đen của nhà tâm lý học đáng kính, bây giờ tôi sẽ tưởng tượng khu vực thị giác của vỏ não bộ như một bảng tính ba chiều, trong đó các kích thích được đưa ra dưới dạng các hạt cườm. Hình 190 chỉ ra một mô hình kích thích bằng bốn điểm. Với mô hình hình chiếu được tạo ra trên võng mạc, các điểm trong ví dụ của chúng ta được sắp xếp sao cho chúng tạo ra ở mặt phẳng chính diện một hình vuông. Nhưng trong nguyên tắc đó không nhất thiết phải là hình vuông. Bốn hạt cườm có thể trượt tự do dọc theo các sợi dây của mình để tạo ra một hình tứ giác nào đó trong một trong số vô hạn các mặt phẳng. Hoặc nhìn chung chúng có thể không nằm trên một mặt phẳng chung.


Tất cả những gì ở đây đã được nói về các hình thù phẳng, cũng là đúng đối với các vật thể nổi khối. Hình thù trong minh hoạ 160a được tạo thành từ ba hình bình hành. Nếu mỗi hình bình hành này tiếp nhận thế nghiêng khiến nó biến thành hình chữ nhật, thì mô hình trong tổng thể sẽ được nhận thức như một hình hộp với ba chiều đo lường mà nó vốn có, chứ không phải là hình lục giác phẳng bẹt và không đúng chuẩn, nằm ở mặt phẳng chính diện và có kết cấu thị giác đơn giản hơn. Hình 160a được nhận thức như hình chiếu của hình hộp. Tuy nhiên không phải mỗi hình chiếu nào như vậy cũng đều khiến chúng ta nhìn thấy hình hộp. Ở 160b hiệu ứng này yếu hơn đáng kể, bởi vì sự đối xứng của hình thù chính diện có một chút khả năng khiến nhận thức về hình ảnh này thiên về phương án hai chiều. Và đối với phần lớn thị giả, nhìn ra hình ảnh 160c như phương án trong suốt của 160b là điều khá khó. Những ví dụ đó đang mô phỏng một quy luật mà Koffka đã phát minh ra trong nghiên cứu thời đầu của mình xoay quanh vấn đề này. «Khi sự đối xứng đơn giản đạt được trong hai chiều đo lường, chúng ta sẽ nhìn thấy một hình thù phẳng. Nếu thành tựu trong phép đối xứng thu hút chiều đo lường thứ ba, khi đó chúng ta sẽ nhìn thấy một vật thể nổi khối»¹. Nếu tái ngôn đi một chút, có thể nói rằng, quy luật này đang được khảng định như sau:

Nhận thức mô hình là hai chiều hay nổi khối phụ thuộc vào phương án nào mà nhờ đó có được một mô hình đơn giản hơn.
-

¹ К. Koffka, Some problems of space perception, в: Murchison, С (ed.), Psychologies of 1930, Worcester, 1930, p. 166.


Tại chỗ này trong trình bày của chúng ta, cần đưa ra hai sự sửa đổi. Cả hình thù trong mình hoạ 156a, cũng như cả hình thù trong mình hoạ 160a, đều có vẻ như chưa hoàn toàn hoàn thiện. Từ quan điểm về chiều đo lường thứ ba, hình thù trong minh hoạ 156a quá cao. Nếu giảm chiều cao của nó đi một chút (hình 156b), thì kết quả có vẻ là chấp nhận được gấp đôi. Hiệu ứng nổi khối ở đây là không thể cưỡng lại hơn, và mô hình nghiêng góc nhận được trong kết quả nhìn có vẻ thuyết phục hơn gấp bội, như một hình vuông. Theo cách tương tự, nếu cũng làm thao tác đó với hình 160a, thì hiệu ứng nổi khối sẽ trở nên mạnh hơn, và mô hình nhận được trong kết quả của phép rút gọn này sẽ được nhận thức ngay lập tức như một hình hộp. Nhìn lại các tính toán, chúng ta sẽ hiểu rằng cũng cần chờ đợi cả điều đó. Nếu mô hình bị trục xuất khỏi mặt phẳng chính diện, thì các cạnh rìa của nó sau khi tiếp nhận thế nghiêng sẽ bị dãn ra. Cấp độ của trò kéo co này sẽ phụ thuộc vào góc nghiêng. Suy ra, nếu tất cả các cạnh trong phương án chính diện là dài như nhau (như đang có trong ví dụ của chúng ta), thì trong mặt phẳng đã bị đẩy nghiêng, chúng sẽ dài ngắn khác nhau. Hình thoi đều cạnh đang tạo ra một hình chữ nhật, chứ không phải hình vuông. Để có được hình vuông, chúng ta cần sửa lại chiều dài của các cạnh tương ứng với thế nghiêng của chúng. Trở thành dễ hiểu, tại sao điều đó lại tăng cường hiệu ứng nổi khối. Nếu chúng ta nhận được một hình chữ nhật thay vì một hình vuông, thì trong kết quả sẽ có một hình thù ít đơn giản hơn. Điều này có nghĩa, trong lượt của mình, rằng, lợi ích, mà sự đơn giản kéo theo, có được bằng phương tiện loại bỏ sự biến dạng trong hình thoi, hoá ra lại là ít hơn. Suy ra, sẽ suy giảm cả áp lực trong hình thoi, và cả kích thích để thoát khỏi nó nhờ vào tính ba chiều.


Như cầu sửa đổi thứ hai nảy sinh vì khiếm khuyết trong các bức vẽ của chúng ta. Mặc dù trên mặt giấy mỗi một hình thoi được tạo thành từ hai cặp cạnh song song, trong phương án nổi khối chúng có vẻ hơi sai sai. Dường như chúng phân kỳ về phía sau, thành thử các hình vuông nhận được trong kết quả tiếp nhận một hình dạng không đúng. Tình huống này trở thành bí ẩn. Luận điểm cơ bản của chúng ta rằng, mỗi một điểm đặc biệt tính cách của trải nghiệm thị giác, có trong mô hình vỏ não của tính nước đôi, đang bắt buộc chúng ta đi đến một kết luận rằng, bảng tính trong hình 190 đã bị vẽ không đúng. Các sợi dây cần phải được phân bố không song song, mà phải phân kỳ về phía sau sao cho, khoảng cách giữa các hạt cườm tăng lên theo độ trượt của chúng. Ở trường hợp đó, trong bất kỳ một mặt phẳng thế nghiêng nào, các đường song song chíng diện sẽ phân kỳ. Cấp độ tách lý này sẽ phụ thuộc vào góc nghiêng. Còn để trở thành song song với nhau trong mặt phẳng nghiêng, các đường chính diện cần hội tụ. Hình 162 chỉ ra, chẳng hạn, một hình thang chính diện có thể biến đổi thành hình chữ nhật như thế nào, nhờ vào phương tiện sắp xếp nghiêng góc cho mặt phẳng.


Vậy thì đâu là nguyên nhân của sự bất đối xứng kỳ lạ này trong mô hình ở vỏ não? Có lẽ, người ủng hộ thuyết tiến hóa sẽ lý giải hiện tượng này như một phương tiện ép buộc cơ thể thích ứng tốt hơn để sinh tồn, bởi vì sự biến dạng này trong vỏ não bộ đang cố gắng bù trừ các biến dạng của hình dạng và kích thước trong các biểu trưng hình chiếu có được trên võng mạc sau khi đi qua thủy tinh thể. Trong các hình chiếu, kích thước của mọi đối tượng giảm đi theo khoảng cách từ chúng tới chủ thể nhận thức. Não, khi tạo ra hiệu ứng đối nghịch, cố gắng phục hồi sự tương ứng có lợi giữa hình dạng kích thước vật lý và bản sao tâm lý của đối tượng cặp đôi.


Dù lý giải lạ quen thế nào cho hiện tượng này, hình 163 đang chỉ ra rằng, nếu các cặp cạnh đối diện của hình thoi bị ít nhiều ép buộc phải hội tụ, hiệu ứng không gian sẽ được cường kích và chúng ta sẽ nhận thức được những hình thù của các hình vuông hoặc các khối hộp.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

6 Jan 2019


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gian
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!