«Sự phân tách chất liệu ra thành chất ảnh dẫn đến sự thống nhất của mỗi chất ảnh, đến một sự o bế trong quan hệ của tất cả các sự vật hoặc các phần tử của một sự vật bên trong chất ảnh. Trong kết quả của sự thống nhất nội vi này, các quan hệ giữa các sự vật hay trong chính sự vật — giữa các phần tử — được sắp xếp lại. Các sự vật có khả năng biến dạng.»
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)

TRUYỀN TẢI CHIỀU SÂU BẰNG PHƯƠNG TIỆN OVERLAPPING

Các quy luật của hiện tượng «hình—phông» liên quan đến hình thức giới hạn của các quan hệ tương giao không gian giữa các mặt phẳng chính diện. Ở đây cần mổ xẻ vấn đề cụ thể hơn. Ở hình 179 chúng ta nhận thấy trước hết là các cấp độ chia nhóm đa dạng trong khuôn khổ một và chỉ một mặt phẳng hai chiều. Phân bố đơn giản của một hình vuông và một hình tròn trong phương án 179a sẽ tạo ra một mô hình trọn vẹn độc nhất. Tâm của hình tròn trùng với tâm của hình vuông, còn đường kính của hình tròn bằng cạnh của hình vuông. Sự tách nhóm mạnh nhất là hình 179е. Tính tách biệt toàn năng của mô hình 179e có khả năng tự do đánh giá hai phần, các phần này không giao cắt nhau và mỗi phần đều tự đối xứng so với chính mình. Các ví dụ về sự chồng chéo của mỗi phần với nhau là 179 b, с, d. Trong cả ba hình này đâu đó có xu hướng làm yếu hoặc, có thể, thậm chí phá hủy sự thống nhất của tổng thể do bố cục bị dỡ thành hai phần. Tuy nhiên có thể thấy rằng, trong các ví dụ này xu hướng đang nói được nhận ra yếu nhất ở hình 179с, bởi vì tâm của đường tròn nằm trên đường chéo của hình vuông và trùng với một trong các đỉnh của nó. Thời điểm này tạo ra sự đối xứng so với các đường chéo của hình vuông và tăng cường sự thống nhất của toàn bộ bố cục trong tổng thể.


Sự tách nhóm, phụ thuộc vào sự đơn giản tương đối của tổng thể và của các phần của nó, đã được chúng ta bàn luận. Bây giờ chúng ta cần xem xét khía cạnh động lực học của các tương giao tương tự. Trong các hình «а» và «е», mức độ căng thẳng là rất không lớn. Cả hai phần bố cục trong hình 179а kết hợp với nhau theo kích thước, hình dạng và vị trí ăn í đến nỗi, không xuất hiện bất kỳ nghịch lý nào. Ở hình 179e, bất kỳ cơ hội tiếp xúc nào giữa các phần bố cục, và suy ra, cả khả năng nảy sinh xung đột cũng được đưa về không. Tuy nhiên trong những phương án kết hợp còn lại của những phần bố cục này, mà đặc biệt là các hình b và d, thấy quá rõ áp lực. Hình tròn và hình vuông dường như đang cố gắng thay đổi vị trí của mình tới một trong hai thái cực: hoặc tới sự trùng khớp, hoặc tới sự tách biệt.

Trong giới hạn của một mặt phẳng hai chiều, không thể nào loại bỏ hoàn toàn áp lực, dù có dùng cách thắt chặt liên minh giữa hình vuông và hình tròn, hay dùng cách triệt để chia tách chúng. Tuy nhiên vẫn còn một cách gọi là «con đường tự do» mà chúng ta đã nhắc tới. Trong giới hạn của một và chỉ một mặt phẳng chính diện, hai phần tạo hình không thể nào đổi chỗ cho nhau. Tuy vậy hình chiếu của mô hình trên võng mạc sẽ không ngăn cản chúng xê dịch về hướng phép đo thứ ba. Và quả thực, trong lúc ở hình 179е, hình tròn và hình vuông không có những liên kết không gian tương hỗ thể hiện rõ ràng, thì, trong các hình b, с, d, chúng lại có khuynh hướng nằm trước hoặc sau nhau. Bằng cách đó, bước chuyển tới vùng tổ chức ba chiều, nhờ có hiện tượng giao cắt của các phần «kị» nhau, lại giúp đơn giản hoá mô hình.


Chừng nào các đường viền cắt chéo hoặc tiếp xúc nhau, nhưng không hề làm nhau đứt đoạn, thì hiệu ứng không gian vẫn là yếu ớt. Tuy nhiên, đường viền của một trong các phần ở hình 180 bị khoá chặt tại hai điểm cắt, đồng thời các phần còn lại đang được tự do. Vào năm 1886 Helmholtz đã nhận thấy rằng, tình huống không gian tổng gộp được ước định chủ yếu bằng những gì xảy ra ở các điểm giao cắt. Ít lâu sau Philburn Ratoosh đã diễn đạt quy luật này bằng toán học và khảng định rằng điều đó có hiệu lực trong mọi trường hợp. Đối tượng nào có đường viền liên tục không đứt đoạn sẽ được nhận thức là nằm phía trước đối tượng khác. Ratoosh đã chỉ ra rằng, điều gì đang diễn ra tại một điểm giao cắt sẽ hoàn toàn không phụ thuộc vào điều gì đang diễn ra tại một điểm khác. Tương ứng với quy luật này, một đơn vị tạo hình có đường viền bị đứt trong hình 180а sẽ chiếm vị trí phía sau, còn ở hình 180b, các điều kiện nghịch lý lại tương ứng tạo ra một tình huống mơ hồ: tại mỗi điểm, mỗi đơn vị tạo hình đang che khuất một phần đơn vị còn lại, và tại điểm kia, chính nó cũng đang bị che khuất một phần.


Một ví dụ sát nghĩa cho điều này đã được James J. Gibson¹ đưa ra (hình 180с). Sau khi nhìn vào bức vẽ, thì cũng có thể cho rằng, hình chữ nhật trọn vẹn đang nằm ở phía sau, còn hình chữ nhật bị cắn dở dang lại đang nằm ở phía trước. Nhưng dù sao, đơn vị tạo hình nào có đường viền được bảo toàn lành lặn và liên tục tại điểm giao cắt, — sẽ được nhận thức là nằm phía trước. Khảng định rằng, «hình dạng đồng thuận» trong phần lớn các trường hợp là yếu tố quyết định, — rất đúng. Tuy nhiên, điều đang diễn ra tại hai điểm tự tại và độc lập — với toàn bộ xác suất — sẽ không phải là yếu tố duy nhất ước lệ cho tình huống không gian của mô hình đang được nhận thức trong tổng thể. Đâu đó chúng ta đã nói sơ qua về những hình thù trong các ví dụ 180 d, e, f, g. Nói riêng, chúng ta đã nhận thấy rằng, những gì đang diễn ra tại các điểm giao cắt là hiện tượng phụ thuộc vào ngữ cảnh hình ảnh. Trong các ví dụ 180d và 180е, đoạn thẳng bị chặn cắt không còn có một chút hứng thú nào nữa để vượt qua giới hạn của chướng ngại vật. Hình 180d tạo ra cảm giác yếu ớt về ham muốn nổi khối, tương ứng với một dữ kiện cho rằng, hai đoạn thẳng bị cắt rời không phải là không phụ thuộc vào nhau, mà còn có thể được hiểu là các phần của một tổng thể có dạng góc bẹt. Ở ví dụ 180g, nguyên tắc «hình dạng đồng thuận» đang tăng cường liên kết giữa hai đoạn thẳng. Chúng được nối liền thành một đường thẳng chạy qua tự do phía sau hình chữ nhật.

¹ James Jerome Gibson, «The perception of the visual world», Boston, 1950, trang 142.


Tất nhiên, ở các hình 180 (d—g) chúng ta không gặp được các điều kiện mà Ratoosh đã mô tả, còn ở các hình 180 (h, i) thì những điều kiện này đã lộ diện. Tương ứng với quy luật mà ông đã diễn đạt, các điều kiện nghịch lý xuất hiện tại các điểm giao cắt cần gây ra một sự bất định về không gian tương tự như tình huống 180b. Thay vào đó, chúng ta không có bất kỳ dấu vết nào của sự nổi khối. Nếu ai đó bắt đầu khảng định rằng, do không có lớp che phủ nào, nên những ví dụ này không liên quan trực tiếp đến vấn đề mà chúng ta đang mổ xẻ, thì người đó đang từ bỏ cuộc chơi, bởi vì vấn đề cũng đang ở chỗ làm thế nào để giải thích được, với các điều kiện nào thì quá trình nhận thức về sự che phủ mới được kích hoạt. Hình ảnh trong mình hoạ 180h, có lẽ, có thể được hình dung thành công bằng hai hình thù tiếp xúc nhau như được mô tả ở hình 180k.


Có lẽ, sẽ có vẻ như là đúng nếu khảng định rằng, khi điều kiện của «Helmholtz—Ratoosh» có hiệu lực tại cả hai điểm giao cắt trong một và chỉ một hướng, thì nó sẽ không thể bị bác bỏ ở cấp độ đáng kể bằng sự phụ thuộc không gian đối nghịch. Tuy nhiên các bố cục, có trong các hình 180 l—n, đang chỉ ra rằng, các mô hình được thiết kế theo cách sao cho, đơn vị tạo hình nào của chúng có đường viền gấp khúc hơn, sẽ cố gắng vượt lên phía trên. Theo sự công nhận chung, hiệu ứng này không có hiệu lực theo hướng đường viền chung, nhưng, thậm chí cả trong trường hợp này cũng không thấy có sự nổi khối, thay vì phải trở thành một lực cường động như quy luật mà Helmholtz—Ratoosh đang chờ đợi. Nguyên nhân của điều này là có thể giải thích được: mô hình với đường viền liên tục ở đây là một hình thù đơn giản đã hoàn thiện, thứ đang không đòi hỏi và đang không đề xuất một bổ sung nào cả.


Chúng ta đã đi đến một kết luận: Nguyên tắc «hình dạng tương đồng», nếu nó được xem xét chuyên biệt tới các điểm giao cắt của các đường viền, có lẽ, có liên quan đến một yếu tố cực mạnh để định nghĩa overlapping. Còn khi động chạm tới quy luật dựa trên quy luật của sự đơn giản, thì nguyên tắc đó, nếu chúng ta muốn nhận được những gợi ý có giá trị, cần được áp dụng trong mô hình tổng thể, chứ không chỉ trong cục bộ.

Mary Casatt, «The Boating Party», 1893, oil on canvas, 90 cm × 117.3 cm, National Gallery of Art, Washington, DC

Trong phép đo chiều sâu, khi hình dung không gian về bức tranh được dựa vào đường viền, chứ không phải vào các số liệu về thể khối hoặc ánh sáng, overlapping có một giá trị đặc biệt để tạo ra tuần tự của các đối tượng. Đối với một số hoạ sỹ, không gian theo cách tốt nhất được triển khai, có nghĩa đối với họ sẽ trở nên thực sự, nhờ có hàng loạt các chuỗi vô tận của các sự vật bao phủ nhau một phần, những sự vật tương tự như những cột mốc chỉ ra con đường dẫn từ tiền cảnh đến hậu cảnh.


Để làm ví dụ, chúng ta sẽ ngắm nhìn một hình ảnh đưa ra diện mạo sơ đồ tranh của Mary Casatt, «The Boating Party» (hình 182). Trong bức vẽ này tất cả các đối tượng được thể hiện trong một tiến triển thích hợp: người đàn ông, tay của anh ta đang nắm tay chèo, đứa bé, người mẹ, mũi thuyền, nước và bờ. Thậm chí phía sau cánh buồm, nằm ngoài đường tiến triển theo hướng này, nhờ có hình ảnh của sợi dây thừng mà một vị trí cụ thể được chốt lại. Vai trò của che lấp như một nguyên tố bố cục không gian rất thịnh hành trong tranh thủy mạc. Sự sắp xếp tương hỗ và tương ứng của các đỉnh núi và những đám mây được thiết lập trong những bức tranh này bằng phương pháp thị giác, còn dáng vẻ của các quả núi thường được nhận thức như sự chồng chất của các sườn núi hay của các lớp lang trong một thứ tự zig-zag. Đường cong của đường viền chung, theo cách đó, được tạo dựng qua phương tiện «tích phân» đặc thù, dựa trên sự kết hợp của các mặt phẳng chính diện.

Không rõ tác giả

Cần đánh dấu rằng, việc chỉ định mô hình cần có vẻ sao cho nó dường như hàm chứa chỗ che phủ (tại các điểm giao cắt hoặc ở đâu đó), chỉ là một mô tả về các «điều kiện cần», chứ không phải về hiệu ứng nổi khối. Thường thì sẽ được đưa ra một giải thích như sau: khi ngắm những bức tranh phẳng, chúng ta nhìn ra hình ảnh chiều sâu là bởi vì, ta gán ghép vào chúng kinh nghiệm của chúng ta khi đề cập tới các vật thể nổi khối trong không gian vật lý. Ai cũng biết, các đối tượng nảy sinh quan hệ không gian khi chúng ta nhận thức chúng là che lấp nhau một phần. Lý thuyết này có tiếng nói quá thiếu thuyết phục, bởi vì nhận thức của chúng ta về không gian vật lý cũng cần được giải thích, mà việc mổ xẻ vấn đề này là cái được lấy ra từ những nhiệm vụ dễ dàng. Được ưu ái hơn là một lý thuyết dựa trên các qui luật mà chúng ta đã đặt nền móng trước đây không lâu. Cũng giống như trường hợp tình huống căn bản của hiện tượng «hình—phông», hiệu ứng nổi khối của sự trùng lấp một phần của các đơn vị tạo hình, có lẽ, sẽ xuất hiện, khi mô hình chung (của nhận thức thị giác dựa vào overlapping) trở nên đơn giản hơn hẳn. Nếu một đơn vị tạo hình cản trở đối tượng đứng cạnh tiếp nhận một hình dạng đơn giản hơn (chỉ định tới việc này có trong chính diện mạo của nó), thì việc hoàn thiện hoá cho hình thức chưa hoàn thiện này sẽ chỉ khả thi khi chia tách mô hình thành hai mặt phẳng chính diện, nằm cách thị giả ở các khoảng cách khác nhau. Theo cách này, đường viền đứt đoạn đòi hỏi được tiếp diễn, mà điều đó chỉ có thể có được khi hình thù bị lẹm được nhận thức là nằm dưới hình thù lành lặn.

Hiệu ứng này sở hữu một sức mạnh đáng gờm, nó có thể gạt phăng đi sự khác biệt thực tế trong khoảng cách. Chúng ta có thể thể hiện các đơn vị được nhận thức thị giác trên các miếng kính khác nhau và đặt chúng trước và sau nhau, sao cho chủ thể nhận thức nhìn thấy mô hình chung như là xuyên qua một lỗ quan sát. Hertha Kopfermann đã chỉ ra rằng, nếu miếng kính «a» (hình 183) nằm cách thị giả khoảng 200cm, còn miếng «b» nằm trước miếng «a» khoảng 3cm, thì người chơi sẽ không nhìn thấy đúng được sự kết hợp thực tế, thay vào đó, tam giác to sẽ được nhận thức như kiểu nó một phần che lấp tam giác bé («c»). Điều này cũng xảy ra thậm chí khi hai vật không liên kết được chỉ ra trên hai miếng kính.


Hiệu ứng overlapping mạnh nhất sẽ có trong trường hợp, khi nó được bổ sung vào sự khác biệt thực sự trong khoảng cách vật lý giữa các mặt phẳng. Trong trang trí sân khấu, không gian giữa hai tấm chắn che lấp nhau nhìn có vẻ thuyết phục hơn, khi những tấm chắn này được đặt cách nhau một đoạn theo hướng nhìn của khán giả, khi đó sự khác biệt thực sự về độ sâu ở tiền cảnh sẽ được tăng cường bằng hiệu ứng của lớp vẽ trên phông hậu cảnh. Phương tiện lớp phủ tạo hình trên màn hình chiếu là hiệu quả hơn, so với trên giấy hay vải vẽ hội hoạ, bởi vì trong hội hoạ hay trong môn vẽ, «mặt phẳng» nhận thấy được của hậu cảnh sẽ bị trung hoà bởi sự nổi khối của mô hình.



Tuy nhiên ấn tượng của chủ thể nhận thức có thể mạnh đến mức, hình thù bị đứt đoạn sẽ được người này xây dựng nốt bằng sự tiếp diễn ý nghĩ phía sau hình thù nằm phía trước. Sự đứt đoạn luôn luôn tồn tại và vẫn sẽ là lộ diện, và lần nào nó cũng sẽ phô trương một áp lực, được bộc lộ giữa các đơn vị tạo hình đang cố gắng tách khỏi nhau và trở thành độc lập với nhau. Sự bộc lộ gián tiếp của áp lực này có thể được mô phỏng qua các thực nghiệm, khi những người chơi được đề nghị tái tạo theo trí nhớ một bức tranh, đã được giới thiệu trong một khoảng thời gian ngắn. Các phần che lấp nhau cục bộ của những đơn vị hình ảnh có trong các bức tranh nguyên bản, hoá ra bị bỏ qua rất nhiều trong những bản sao. Nói một cách khác, ở đây, khuynh hướng né tránh sự rõ ràng của các đường biên giới giữa các đối tượng, khuynh hướng này xuất hiện khi không có sự kiểm soát trực tiếp đối với kích thích. Các ví dụ về việc, để phục vụ cho các mục đích mỹ thuật, người ta thường đem ra sử dụng một áp lực, có được nhờ ảnh hưởng qua lại giữa các đối tượng, đã được chúng ta bàn luận.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

27 Dec 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Không gianOverlapping
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!