Cấp độ bề mặt, thông tin, hay thuyết âm mưu của nhận thức đã có trong cả hội hoạ. Tiện thể nói ngay và luôn, nhiều khán giả khó có thể tiến xa hơn được điều đó. Nghịch lý nằm ở chỗ, người ta thường nói, tranh đẹp «như ảnh», còn ảnh đẹp — «như tranh».
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

KHỐI LẬP PHƯƠNG VÀ ĐƯỜNG TRÒN

Hình thù phẳng (mà ví dụ là các tượng thần bằng đá cẩm thạch từ quần đảo Cyclades) giới thiệu cho chúng ta biết về cơ thể người trong hai chiều đo lường. Bước tiếp theo của vi phân hình dạng là sự bổ sung thêm phép đo vật chất thứ ba, và vật thể đã có dạng khối lập phương trước mắt chúng ta. Ngoài mặt trước và mặt sau, ở đây đã có thêm hình thức từ hai mặt cạnh. Một kết cấu nhận thức thị giác của hình thù được hình thành từ bốn mặt cơ bản, nằm cận kề vuông góc với nhau. Những đặc tính của kết cấu đó lần đầu tiên được Emmanuel Levy đưa ra như một định luật phát triển của điêu khắc Hy Lạp cổ đại. Nhưng nếu nói chung, nó đặc trưng cho bố cục điêu khắc ở những giai đoạn đầu hình thành khả năng mỹ thuật.

Như cơ sở tâm lý cho phương pháp này, có thể đưa ra những lý do sau. Thứ nhất, sự phức tạp của các dạng cong tròn được quy về các phụ thuộc vuông góc đơn giản của khối lập phương. Thứ hai, sự bất tận phức tạp của tổng thể được trình bày ở đây như sự kết hợp tương đối của các phần đơn giản và độc lập. Thứ ba, sự đa dạng của các hình chiếu được rút gọn triệt để — chỉ còn bốn hình chiếu, về trực quan là đơn giản nhất: các hình thức đối xứng từ phía trước và phía sau, cũng như hai mặt cạnh. Cuối cùng, nghệ sỹ điêu khắc bất cứ lúc nào cũng có thể tập trung chú ý vào một phần kép kín tương đối của bố cục, có thể khảo sát nó mà không thay đổi góc nhận thức. Nghệ sỹ điêu khắc có thể bắt đầu làm việc với mặt chính diện, tiếp theo với mặt cạnh và cứ thế. Tổ hợp của tất cả các hình thức này sẽ được thúc đẩy đến pha cuối củng của quá trình sáng tạo.

Colossal statue of a winged lion from the North-West Palace of Ashurnasirpal II, 883-859 BC. Nguồn: britishmuseum.org

Sự độc lập của tất cả bốn hình thức này được mô phỏng thành công qua các ví dụ về những con bò đực hoặc những con sư tử có cánh, tượng tạc chúng đã đóng vai trò những người gác cổng trong các cung điện của người Assyria (hình 150). Nếu nhìn chúng từ phía mặt chính diện, có thể nhận ra sự sắp xếp cố định đối xứng của các chân trước. Hình thức từ mặt cạnh bên đã miêu tả cả bốn chân đang trong trạng thái chuyển động. Điều đó có nghĩa rằng, từ một điểm quan sát hơi lệch chúng ta đã thấy năm chân. Nhưng sự bổ sung các nguyên tố không liên quan như thế làm hư tổn một hình dung đang được chờ đợi. Đối với người Assyria, họ lại rất chú trọng việc bảo toàn sự trọn vẹn của mỗi một hình thức này trong riêng rẽ.


Tất cả các nghệ sỹ điêu khắc non trẻ đều va vấp phải một vấn đề, đó là, cách hiểu vừa được đề cập về khối lập phương đã và đang gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động mỹ thuật của họ. Khi cố gắng từ chối hình dung này và chuyển hướng sang hình dạng nổi khối vốn có của thời đại Phục hưng, họ buộc phải tự vượt qua phương thức Ai Cập trong hình ảnh điêu khắc. Hơn nữa, họ sẽ thường xuyên phải lay hoay hoàn thiện một mặt khối điêu khắc sao cho hình thức của nó tương ứng với nhận thức từ một điểm quan sát đã định trước. Nhưng ít lâu sau họ sẽ phát hiện ra rằng, khi quay khối hình, đường chân trời trong cái nhìn trước đó sẽ không thuộc về một giới hạn nữa. Trong kết quả, trên khối điêu khắc của mình, họ bất ngờ tìm thấy một lỗ thủng, một nếp gấp hoặc những mặt phẳng chưa hoàn thiện, những thứ, thay vì làm cho hình khối trở nên thanh thoát, lại bị xé toạc vào không gian hở. Những khả năng tư duy về đối tượng như một tổng thể liền mạch là đặc trưng cho giai đoạn sau này để thống lĩnh không gian ba chiều. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu cho rằng, khả năng này đã là có thể đạt được trong giai đoạn tạo dựng khối cầu đầu tiên. Nó được sản sinh ra, trước hết, bằng con đường thông tin hoá, biến đối tượng tái tạo thành một thỏi đơn chiều và phép vi phân từ từ, điều này đã trải qua một chặng đường tiến từ các vật thể phẳng và lập phương đến những hình thù thực sự nổi khối của MichelangeloBernini.

Một bức minh hoạ trích từ sách «Tàn tích cổ đại của Rome, Tivoli, Pozzuoli, và những nơi khác», 1606. (Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan)

Trong điêu khắc theo phong cách Baroque, người ta đã từ chối phân nhóm thành các hình chiếu được mô tả rõ ràng, và thường là không thể xác định được đâu là hình thức chính. Mỗi một hình chiếu là một phần không thể tách rời của một hình thức thay đổi liên tục. Nhấn mạnh chú ý vào góc nhìn rút gọn theo mặt nghiêng không cho phép mắt dừng lại ở một chi tiết nào riêng biệt. Các mặt phẳng điều khiển nhận thức từ bất kỳ điểm quan sát nào và đòi hỏi chủ thể nhận thức phải thay đổi vị trí không có hồi kết. Vít là mô hình kết cấu cơ bản được áp dụng đơn giản nhất cho một dải nhóm phù điêu, theo đường xoắn ốc bao quanh Cột Trajan ở thành Rome, hay trong tượng Marcus Aurelius. Một ví dụ đặc trưng là tượng Đức Chúa Kitô mà Michelangelo làm cho nhà thờ Santa Maria Sopra Minerva ở Rome. Mỗi một phân đoạn của hình thù được đặt nghiêng so với phân đoạn tiếp theo. Như vậy, tại bất kỳ một hình chiếu nào, mặt trước của một phân đoạn sẽ được dung hoà bằng độ nghiêng của phân đoạn khác. Điều này mang đến một hình thức vật thể quay theo đường xoắn ốc. Theo Lomazzo, Michelangelo khuyên các học trò của mình đưa «hình dạng con rắn» vào các tác phẩm.

Không nhất thiết phải nói rằng, phong cách của những hình thù như thế là nghệ thuật ở cấp độ không lớn hơn so với phong cách của các khối lập phương đơn giản, được sáng tạo ra bởi những nghệ sỹ đục đẽo châu Phi hay Ai Cập Cổ Đại. Chỉ đơn giản, những hình thù này là phức tạp hơn, và, mặc dù sự giầu có mượt mà của một bản giao hưởng bất tận đang làm say đắm con mắt đã được luyện tập, vẫn tồn tại nguy cơ khiến hoạ sỹ đánh mất sự kiểm soát đối với sự đa dạng không được nhận thức và sự giả lập thiên nhiên vô định hình.

Không có con đường ngắn ngủi dẫn đến sự xuất hiện của văn hoá hiện đại, văn hoá đang định nghĩa nghệ thuật của ngày nay.

Trong số những giai đoạn sau này của vấn đề nắm bắt sự phức tạp hình thức, tôi chỉ dừng lại tại một thời điểm. Xuyên suốt toàn bộ lịch sử nghệ thuật điêu khắc, luôn luôn tồn tại sự khác biệt rõ ràng giữa một khối đá rắn và không gian trống rỗng bao quanh nó. Các biên giới của hình thù luôn luôn là hoặc thẳng, hoặc những mặt lồi, còn những lỗ phân tách tay khỏi thân, hoặc tẽ rời các chân ra khỏi nhau, chưa bao giờ làm giảm đi tính gọn gàng của thể khối chính.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

29 Nov 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!