Nhiếp ảnh gia, như một cây xương rồng, lớn lên rất chậm. Không được quá tay tưới cho nó, nếu không nó sẽ chết héo.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

CÁC KẾT LUẬN SƯ PHẠM

Phân tích cụ thể trước đây về sự phát triển hình dạng mỹ thuật trong các bức vẽ của trẻ em sẽ chỉ là có hiệu quả trong trường hợp, nếu các kết luận của nó được ứng dụng rộng rãi. Phân tích này đã được chấp thuận chủ yếu theo hai lý lẽ. Thứ nhất, như đã thấy, không tồn tại một phản biện thuyết phục nào trước dữ kiện cho rằng, hình ảnh mỹ thuật là có thể hiểu được khi so sánh nó với đối tượng nhận thức hiện thực chủ nghĩa như một mô hình. Tôi đã cố gắng chỉ ra, bằng cách nào mà sự phát triển hình thức đang xảy ra trong khuôn khổ của chính những phương tiện tạo hình và tương ứng với điều kiện của những phương tiện này. Một sự giải thích sai lầm sẽ là điều không thể tránh khỏi, nếu xem xét một bức tranh giống như một bản sao chính xác ít hoặc nhiều của đối tượng nhận thức hay của một vật thay thế ngẫu nhiên, chứ không phải vật thay thế kết cấu của đối tượng này trong những phương tiện tạo hình đang có. Điều này là đúng đắn không những chỉ khi nói về một bức vẽ của trẻ thơ, mà còn khi nói về bất kỳ nghệ thuật nào, kể cả nghệ thuật theo chủ nghĩa hiện thực.

Ảnh minh hoạ: rastut-goda.ru

Thứ hai, như đã thấy, hoàn toàn không vô ích nếu hình dung một cách trực quan, bằng cách nào mà hình thức tạo hình đang được phát triển một cách hữu cơ trong định hướng từ những mô hình đơn giản nhất đến những mô hình phức tạp hơn. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển các khả năng sáng tạo có ở trẻ thơ sẽ phục vụ cho mục tiêu chứng minh sau này về xu hướng đơn giản hóa, điều này đã được mô tả trước đây trong các hiện tượng có liên quan đến tổ chức của chất liệu được nhận thức thị giác. Ý thức của trẻ thơ đang phát triển từng bước một, đòi hỏi sự phức tạp cứ lớn dần lên. Tuy nhiên, giai đoạn trình độ cao sẽ chỉ là có thể tiếp cận được bằng con đường nắm bắt trình độ thấp. Khi đạt đến một cảnh giới nào đó, tự nhiên sẽ sinh ra nhu cầu và sự sẵn sàng để tiến lên cảnh giới tiếp theo. Nếu có sự cố tình can thiệp vào quá trình này, sẽ xuất hiện đổ vỡ và loạn kỷ luật. Một giáo viên cũ thời, khi sử dụng những thủ thuật chuyên nghiệp khéo léo để tạo ấn tượng mạnh lên các học trò, sẽ là có tội, cũng ở mức độ y hệt như khi một họa sỹ theo theo chủ nghĩa sơ lược dạy một đứa trẻ: «Đây là bức tranh đáng yêu, nhưng không thể đạt được chính quả nếu như không có linh cảm nhạy bén». Một chàng sinh viên mỹ thuật khi bắt chước phong cách thể hiện của giáo viên «ruột», sẽ có nguy cơ mất hết trực giác của mình về đúng và sai, bởi vì thay vì nắm bắt hình thức tạo hình, cậu ta lại chăm chăm đi bắt chước nó. Tác phẩm của anh ta, thay vì việc phải trở thành thuyết phục và thiên bẩm, rất tiếc, lại mang màu sắc chỉ đạo. Anh ta mất đi sự ngây thơ trong sáng của một đứa trẻ, thứ mà các họa sỹ muốn trẻ hóa nằm mơ cũng khó thấy, và nếu thấy thì họ giữ như giữ vàng. Sự trong sáng này sẽ dẫn lối chỉ đường đến một hình thức đơn giản nhất có thể có, tương ứng với mọi tư duy khách quan phức tạp. Nhạc sỹ Arnold Schoenberg, tác giả của thể loại âm nhạc rắc rối nhất, đã nói với các sinh viên của mình rằng, các tác phẩm của họ cần phải tự nhiên như thể chân tay. Họ càng cảm thấy những tác phẩm này là đơn giản, chúng càng thực sự tốt. «Nếu một thứ gì đó mà bạn viết ra có vẻ là quá phức tạp cho chính các bạn, thì các bạn có thể không cần nghi ngờ: ở đó không có hương vị chân mỹ gì đâu». Những đặc điểm chính thống mà chúng ta đã xem xét xuất phát từ các chức năng nhận thức của tâm trí con người: nhận thức nhạy cảm về thế giới bên ngoài, thận trọng vận hành trải nghiệm trong quá trình tư duy trực giác và tư duy tri thức, bảo tồn trải nghiệm và ý niệm này trong trí nhớ. Nếu ngắm nhìn các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình từ góc nhìn này, thì chúng là công cụ để nhận dạng, thấu hiểu và định nghĩa sự vật — công cụ nghiên cứu những quan hệ tương tác và tạo ra kỷ luật trong mọi sự phức tạp diễn biến tăng dần. Thường thấy nhất, các nhà tâm lý học đã sử dụng các tác phẩm nghệ thuật vì những mục đích khác. Họ nghiền ngẫm chúng, nói riêng, nghiền ngẫm các tác phẩm được tạo ra bởi những người có khả năng thông minh kém cỏi hoặc bị dị tật, như một biểu hiện của bản sắc xã hội, tâm trạng và tính khí, như sự hiện diện hay vắng mặt của lực động lực cân bằng, như một biểu hiện của ham muốn hay sợ hãi. Những nghiên cứu này đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, hầu như sẽ có giá trị to lớn cho hiểu biết khoa học về nghệ thuật cũng như về cá tính con người.

Cho đến nay, hầu như không có nỗ lực nào được thực hiện để phối hợp hai phương pháp này. Một số nhà nghiên cứu đã chỉ chú tâm vào hình thức tạo hình tách biệt khỏi mục tiêu cuộc sống, các nhà khoa học khác lại coi nghệ thuật là phương tiện chẩn đoán, không hề chú ý đến các yếu tố nhận thức và nhận thức hình ảnh. Nếu chỉ xét về tính mới lạ thì sự đơn phương đó, có lẽ, là cần thiết và có lợi, ngoại trừ những giải thích và kết luận sai lầm. Dĩ nhiên, sẽ không thể hiểu được tổng thể phức tạp mà không phân tích những thành tố của nó. Tuy nhiên, nếu không sử dụng một phương pháp cụ thể để giải thích các hiện tượng, thì sẽ xảy ra tình trạng «đẽo cày giữa đường». Tâm lý học đại cương sẽ tạo ra mảnh đất màu mỡ cho phương pháp đó. Ngày nay người ta đã biết rằng, những chức năng nhận thức như, trí khôn (tri thức), sự uyên bác và trí nhớ, không thể được xem xét tách rời một hệ thống chung của ham muốn, nhu cầu, phương châm. Người ta nói rằng, «cá tính» bộc lộ trong thế giới quan của cá thể. Mặt khác, mức độ kinh nghiệm khách quan của các cá nhân và cấp độ tri thức của họ chỉ có thể được tính theo thái độ tác động lên vị thế chung.

Nhu cầu liên hợp như vậy có thể được mô phỏng qua một ví dụ được lựa chọn đoán mò từ tài liệu chuyên sâu về vấn đề này. Trong một cuốn sách của Herbert Read, viết riêng cho các vấn đề giáo dục mỹ thuật¹, có phần bình luận xoay quanh một bức vẽ của một bé gái năm tuổi. Con hổ trong bức vẽ này được thể hiện rất đơn giản — chỉ bằng hai nét nằm ngang biểu trưng cho phần thân, và hai đường dọc ám chỉ cho các chân. Những đường nét này cắt nhau bằng những dải ngắn mô tả cho phần da vằn sọc. Read nói về nền móng «tổng quan và toàn thể, tập chung vào chính bản thể và không liên quan trong nội vi» của bức tranh này. Cô bé, theo lời của Read, đã bỏ qua bất kỳ hình ảnh trực quan nào của con hổ mà ông nghĩ đến. Bé gái này đã tạo ra một «biểu tượng truyền cảm, không hề tương ứng với nhận thức hay kiến thức về loài hổ...». Bức tranh là ví dụ đặc trưng cho giai đoạn biết vẽ thường thấy với định hướng ngang dọc. Ở giai đoạn này thì một đứa trẻ có khả năng trung bình sẽ tái tạo muông thú theo đúng cách đó. Ở đây rất hay thiếu hụt một phép vi phân bất kỳ giữa hình dạng hữu cơ (được tổ chức bên trong) và vô cơ (không liên quan bên trong); các đoạn thẳng hình que tượng trưng cho cả hai hình thức. Các bức tranh có nguồn cội như thế là khá nghèo nàn về nội dung, nhưng không bởi vì, đứa trẻ không có khả năng quan sát thế giới xung quanh và sử dụng điều đó hoặc không ham muốn làm điều đó, mà bởi vì, giai đoạn tạo hình căn bản không cho phép trẻ em sử dụng triệt để những gì chúng đã thấy. Dựa theo bức vẽ và độ tuổi của trẻ thơ, không thể xác định được chúng có hướng nội, tập trung nội tâm hay không. Có thể, sự tập trung vào bản thân đang kiềm chế sự vi phân hình dạng, tuy nhiên bản thân một hình dạng chưa được vi phân không đưa ra một đề xuất nào về vấn đề di chuyển tâm hồn vào thế giới bên trong. Một bức tranh và cũng chính bức tranh đó có thể sẽ là phôi thai sáng tạo của đứa trẻ sôi nổi, hướng ngoại, quan tâm sâu sắc đến hình thức và động thái của muông thú.


Các tính cách nhận thức và tạo hình mà chúng ta đã xem xét có tính tổng hợp hơn (bởi vì chúng là căn bản hơn), so với chính các sản phẩm hội hoạ của các «cá tính». Sự phát triển của hình thức tạo hình diễn ra trên cơ sở tính chất đặc trưng của hệ thần kinh, có nghĩa, của loại vật chất chịu ảnh hưởng rất ít từ tác động khác biệt cá tính và văn hoá. Cũng chính vì nguyên nhân này, các bức vẽ của trẻ em toàn thế giới về bản chất là có vẻ giống nhau, còn trong các tác phẩm nghệ thuật ở các giai đoạn lịch sử sơ khai của các nền văn mih khác nhau có sự tương đồng đến kinh ngạc. Một ví dụ tốt cho điều này là sự ứng dụng tổng quát các đường tròn và sự sắp đặt đồng tâm của các hình thù. Đối với trường hợp này, rất trùng hợp, Carl Jung đã dùng từ «Mạn-đà-la» của tiếng Phạn. Thiên hướng của con người trong việc tạo hình các hình tròn và hình thù đồng tâm có thể được tìm thấy trong nghệ thuật phương tây và phương đông, trong nghệ thuật Ai Cập Cổ Đại, cũng như trong các bức vẽ của trẻ em và thổ dân da đỏ châu Mỹ. Jung cũng trích dẫn mô hình này như một trong những nguyên mẫu hay một trong những biểu trưng tập thể, đó là những thứ xuất hiện ở mọi nơi, bởi vì, sự vô thức mang tính tập thể, bao hàm những nguyên mẫu và biểu trưng kia, đơn giản là thể thức tâm lý toàn năng của kết cấu não bộ trong ý nghĩa bất tương đối trước mọi khác biệt về chủng tộc. Độc giả sẽ công nhận Mạn-đà-la như hình dạng của mô hình thể hiện các tia sáng mặt trời. Hình dạng này đặc trưng cho giai đoạn đầu của phép vi phân. Việc áp dụng đa năng mô hình này trong các bức vẽ của trẻ thơ, như đã thấy, được giải thích là nhu cầu của lý trí trẻ em trong việc trật tự hoá thị giác ở cấp độ phức tạp thấp. Đồng thời, những mô hình như vậy, khi được hình thành trong tiềm thức hoặc có ý thức, sẽ có khả năng tượng trưng cho hiểu biết trực giác sâu sắc về bản chất của vũ trụ. Tất cả những điều này phơi bày sự thống nhất trong nhận thức của loài người, những khả năng thông minh của họ, trạng thái tâm lý của họ, thứ đang đòi hỏi và tạo ra một số và chỉ một số hình dạng trong các lớp sâu thẳm của nhận thức nhạy cảm và trong tiềm thức, mà từ đó sẽ xuất hiện những phân loại khác nhau của tầm nhìn và những giấc mơ ảo ảnh.

Các biểu tượng được nhận thức thị giác sẽ không thể được nghiên cứu chu đáo nếu không đề cập đến các yếu tố nhận thức và tạo hình. Một người ủng hộ thuyết phân tâm học, khi cho rằng, một đứa trẻ bắt đầu hoạt động nghệ thuật từ việc tạo hình các đường tròn là do chúng nhớ đến bầu sữa mẹ, có nghĩa nhớ đến đối tượng đầu tiên có ảnh hưởng đáng kể đến trải nghiệm cuộc sống, sẽ bỏ qua các điều kiện vận động và thị giác căn bản khêu gợi sự ưu ái cho hình dạng vòng tròn hay đường tròn. Những biểu tượng đầu tiên, như vòng quay mặt trời hay hình chữ thập, đang ánh xạ những dạng thức nền tảng của trải nghiệm con người nhờ vào các hình thức tạo hình cơ bản. Không có bất kỳ cơ sở nào để đấu tranh giành lấy lợi thế của hình thức hay nội dung, tranh cãi về việc cái gì có trước — nội dung hay hình thức.

Giáo viên nghệ thuật hiện đại được hưởng lợi từ các phương pháp và khám phá tâm lý học. Tuy nhiên đến bây giờ họ đã cố gắng đơn phương nhấn mạnh nghệ thuật như một cách thể hiện trực cảm, mâu thuẫn, nhu cầu và hơn nữa. Vì nguyên nhân này mà đã xuất hiện sự độc quyền đặc biệt, thâu tóm một số phương tiện kỹ thuật và phương pháo giáo dục nhất định, khuyến khích các phương thức tự phát, các cú chớp bột phát, các hiệu ứng chưa chín muồi của màu sắc bất định hình — các thời điểm cọ sát với tính sắc nét của các hinh dạng được kiểm soát trực quan. Chổi rộng bản và màu giá vẽ thiết khiến đứa trẻ bộc lộ một bức tranh đơn phương của trạng thái thông minh. Ở đây cũng phải nói ngay rằng, không được phép loại trừ khả năng rằng, những bức tranh mà trẻ được phép vẽ có thể tác động tương ứng tới trạng thái thông minh của chúng. Không có bất kỳ một nghi ngờ nào, các phương pháp giáo dục mỹ thuật hiện đại mang đến một lối thoát cho các vấn đề nhận thức của trẻ em, những vấn đề dị tật trong thực tiễn truyền thống của việc sao chép mô hình bằng ngòi bút chì gọt nhọn. Nhưng cũng chính ở cấp độ đó, rất nguy hiểm nếu ngăn cản trẻ nhỏ làm việc với các bức vẽ để làm sáng tỏ các quan sát của chúng trước thực tại, để đạt được cách kỷ luật hoá các kết quả quan sát. Những cảm xúc thiếu cá tính không phải là kết quả mong muốn của giáo dục, và, suy ra, chúng cũng không thể được đưa vào sử dụng như một phương tiện của giáo dục. Trang thiết bị phòng vẽ cần đủ phong phú, còn giáo viên cần đủ sành sỏi, sao cho học viên nhí của họ, trong suốt quá trình học tập, có thể hành động như một cá nhân chủ động và toàn vẹn.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

23 Nov 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!