Hoạ sỹ nói thật, còn nhiếp ảnh gia nói dối, bởi vì trong thực tế, thời gian chưa bao giờ dừng lại.
François-Auguste-René Rodin 
(1840 - 1917)

TẠO HÌNH SỰ VẬT TRÊN MỘT MẶT PHẲNG XÁC ĐỊNH

Hình ảnh của một vật thể có khối là giai đoạn cuối cùng trong sự phát triển khả năng mỹ thuật của một đứa trẻ, và nó không phải lúc nào cũng đạt được một cách tự phát. Để truyền đạt hình dạng tròn của một trái cầu hoặc một phép rút gọn đơn giản trong góc nhìn về một khuôn mặt quay nghiêng, đứa trẻ có thể sử dụng các loại bóng khác nhau. Sự tiến bộ rõ rệt trong việc phát triển khả năng mỹ thuật của đứa trẻ chỉ có thể được tìm thấy trong hình ảnh các vật thể hình học đơn giản, chẳng hạn như nhà cửa, hộp, bàn, bởi vì trong những trường hợp này, các đơn vị tạo hình, những thứ khác biệt nhau về định hướng không gian, sẽ thực sự khác nhau, cũng như các cạnh có hình chữ nhật.


Vấn đề lựa chọn «hình chiếu» đã được chúng ta bàn luận trước kia, và vì vậy ở đây chỉ cần xem xét nó từ khía cạnh di truyền. Cái khó của hình ảnh mỹ thuật mà một đứa trẻ buộc phải va vấp, đó là, trong một bức tranh, chỉ có thể thể hiện hai trong số ba chiều đo lường không gian. Để phân biệt phần trên và phân dưới của hình ảnh, buộc phải sử dụng phép đo thẳng đứng trên mặt phẳng. Để phân ranh giới các phần bên trái và bên phải, lại chuyển sang đo đạc theo chiều nằm ngang. Trong kết quả sẽ nhận được một thứ mà tôi gọi là «không gian thẳng đứng» (lát cắt thẳng đứng). Ngoài ra, đứa trẻ có thể sử dụng hai phép đo lường này để chỉ ra các định hướng địa lý trong một địa phận nào đó, và điều này sẽ tạo ra «không gian nằm ngang» (hình 116). Các đối tượng đứng thẳng, chẳng hạn các hình người, cây cối, tường vách, chân bàn, bộc lộ những đặc điểm tính cách của mình một cách rõ ràng và đầy đủ nhất trong không gian thẳng đứng. Còn các sự vật khác, như các công viên, phố xá, mặt bàn, đĩa ăn, thảm sàn, lại đòi hỏi một không gian nằm ngang để được tạo hình. Một khó khăn thêm nữa, đó là, trong một không gian thẳng đứng, chỉ có thể giới thiệu trực tiếp một mặt phẳng từ vô vàn các «lát cắt» thẳng đứng. Như vậy, trong một bức tranh chỉ có thể đưa ra hình ảnh chính xác mặt tiền của một ngôi nhà nào đó, nhưng không thể nào đồng thời tái tạo cả mặt cạnh bên của ngôi nhà này, nếu không đưa vào đây một cách thức tạo hình gián tiếp.

Trong các bức vẽ của tuổi thơ, định hướng của mặt phẳng trong không gian còn chưa được vi phân. Tương ứng với định luật vi phân, tất cả các mặt phẳng được đưa ra trong một định hướng đơn giản nhất — định hướng trùng với mặt phẳng tranh. Một người trưởng thành có khả năng vi phân, trong các đánh giá về giai đoạn phát triển mỹ thuật của trẻ em đậm chất bất vi phân, thường phạm phải một sai lầm thông dụng. Chẳng hạn, có thể gặp phải một ý kiến, cho rằng trẻ em «biến dạng» hình dạng bằng cách «xếp gấp» các vật thuộc về các định hướng khác nhau, và bằng cách đó, hành xử giống như kiểu chúng đang cẩu thả hoặc bị «cuốn hút» đặc biệt vào một số hướng cụ thể của đối tượng. Thực ra thì «sự xếp gấp» chỉ có thể tồn tại trong thế giới của các vật thể có khối.

NHỮNG CHIẾC HỘP TRONG BA CHIỀU ĐO LƯỜNG

Một mặt, sự thích nghi của tất cả các bề mặt cần thiết trong mặt phẳng tranh là giải pháp đạt yêu cầu nhất. Nhưng mặt khác, không có sự vi phân dẫn đến sự mập mờ. Không tồn tại phương pháp thể hiện nào trong khuôn khổ cách thức đó để có thể chỉ ra các chân bàn và mặt bàn là đang nằm trong các mặt phẳng có định hướng khác nhau. Trong một giai đoạn phát triển xác định, trẻ em bắt đầu cảm nhận được nhu cầu tạo chiều sâu cho hình ảnh. Khi vẽ một thiên thần, đứa bé có thể cảm thấy phiền phức, bởi vì vầng hào quang nằm thẳng đứng chứ không nằm phía trên phần đầu của thiên thần. Sự vi phân sẽ trở thành cần thiết, tuy nhiên sẽ xuất hiện một vấn đề là làm cách nào để đạt được nó. Khi những trẻ em năm tuổi, trong quá trình thực nghiệm, va vấp phải vấn đề, dùng phương pháp nào để miêu tả một cái que hay một đĩa tròn đang nghiêng về phía chủ thể nhận thức, chúng đã trả lời: «Không ai có thể làm được điều đó!» — và đã giải thích rằng, trong trường hợp này chúng buộc phải xuyên rách giấy bằng bút chì. Nếu nói bóng gió về giải pháp thị vị cho băn khoăn này, có thể thể hiện đối tượng ở dạng bình thường, sau đó nghiêng tờ giấy đi đến một hướng tương ứng. Sau một chút, chính cuộc đời sẽ mách nước cho chúng (hoặc chúng sẽ được giáo dục bởi người lớn và các giáo viên) một phương cách khéo léo để tái tạo chiều sâu bằng phương tiện định hướng xoay nghiêng.


Thuở hồng hoang của hành trình phát triển mỹ thuật, trẻ em thể hiện các khối lập phương như những hình tứ giác (hình 117a). Chúng ta nhắc lại rằng, những hình chữ nhật (hoặc hình vuông) này không phải là hình ảnh trực diện, mà là những mô hình hai chiều tương đương của các khối lập phương. Nhu cầu về một bức tranh đầy đủ hơn, — trong đó, chẳng hạn, có thể chỉ ra các cửa vào phía cạnh bên, — sẽ được đáp ứng bởi phép vi phân, mà nhờ vào đó, hình chữ nhật đã được xác nhận kia sẽ trở thành mặt tiền được bổ sung thêm một hoặc hai mặt bên cạnh (hình 117b). Vì phải tương ứng với một thực tế là, các biến dạng phối cảnh không được nhận thức một cách ngẫu nhiên, nên những mặt cạnh này được vẽ như những hình chữ nhật chuẩn chỉnh. Thậm chí trong các trường hợp trẻ em nhìn thấy sự rút gọn góc nhìn, chúng phần lớn vẫn tuân thủ một quan điểm minh mẫn rằng, những biến dạng này không có giá trị gì hết. Piaget đã thông báo rằng, khi ông cho một cậu bé bảy tuổi xem một cái đĩa đặt nghiêng và đề nghị cậu vẽ lại, cậu bé đã vẽ một hình ellipse và bình luận: «Đây là một cái gì đó tương tự như hình thù kia. Ai đó có thể sẽ nói, rằng cái đĩa trong bức vẽ của cháu là không tròn, nhưng kiểu gì đi nữa thì nó vẫn là tròn».


Rồi một thời gian nào đó sẽ trôi qua, sự mập mờ không gian của bức vẽ sẽ không còn thoả mãn trẻ thơ và đẩy chúng vào cuộc chia tay với tính thờ ơ trước hiệu ứng định hướng xoay nghiêng (hình 117c). Hiệu ứng này không dựa trên một quy thuận ngẫu nhiên. Như sẽ được chỉ ra ở phía dưới, tư thế xoay nghiêng sẽ tạo ra một nhận thức được xác thực về chiều sâu. Hơn nữa đó cũng chính là một thủ tục gián tiếp, mà nhờ đó phép đo lường thứ ba bị bỏ qua sẽ được khôi phục trên mặt giấy với sự biến dạng của hình dạng hai chiều. Hình 118 được chúng ta lấy ra từ một bức tiểu hoạ Ba-Tư, cho thấy một quốc vương đang ngự trên ngai vàng của mình. Một tấm thảm được trải dưới ngai vàng. Phía trên ngai vàng là lều chõng. Tấm thảm tượng trưng cho định hướng ngang-dọc của nền nhà, trong khi ngai vàng được đặt nghiêng đi so với nó, còn lều chõng lại có dạng hình chữ nhật nghiêng đi so với ngai vàng ở một góc độ khác. Thấy rõ, hoạ sỹ có ý định dùng cách đó để chỉ ra rằng, ngai vàng và lều chõng không phải là phẳng, và, nằm cách nền nhà ở những khoảng khác nhau. Những giải pháp như thế, — khi một đối tượng giữ vững sự bất biến, nhưng tổng thể lại được sắp đặt trong trạng thái nghiêng — dần dần rồi sẽ được trẻ em sử dụng.


Tuy nhiên cách đó là khó phù hợp trong các trường hợp, khi chỉ có một phần của đối tượng cho thấy nó nằm ở tư thế xoay nghiêng vào chiều sâu. Trong kết quả sẽ xảy ra sự biến dạng không thể tránh khỏi của diện mạo đối tượng (hình 117c). Có thể nhận thấy, quá trình phát triển mỹ thuật này không xuất hiện đơn giản như kết quả của một sự quan sát «tốt hơn» vào bản chất, mà chủ yếu như một khả năng giải quyết một vấn đề hóc búa, thường thấy trong tiến trình vẽ.


Đôi khi, chỉ một mặt cạnh được bổ sung thêm vào mặt chính diện. Ở giai đoạn sau hơn, thủ tục này dẫn đến một giải pháp như trong hình 119a. Tuy nhiên, việc sử dụng cả hai mặt bên cạnh (hình 119b) lại thoả mãn được tư duy trực giác căn bản tốt hơn nhiểu, bởi vì sự đối xứng của tổng thể được bảo toàn. Chỉ cho thấy một mặt và bỏ qua tất cả phần còn lại — điều đó có nghĩa gây ra cảm giác bị chọc tức vì phi logic. Các sử gia nghệ thuật nghiêng theo tư duy chủ nghĩa tự nhiên đã từng phải bối rối trước những tình huống «phối cảnh lộn ngược». Tại sao các đường biến mất trong bức tranh lại là phân kỳ, trong khi trong thiên nhiên thì chúng lại hội tụ? Rõ ràng là, thứ chúng ta đề cập đên ở đây không phải là sự đảo ngược của phối cảnh trung tâm được thấy trong thiên nhiên, mà là một phép vi phân logic vốn có ở một giai đoạn phát triển xác định của các đặc tính mỹ thuật. Và cả hình 117c cũng đề cập đến phép vi phân này. Trên thực tế, phương án tạo hình này có vài ưu điểm trong nhận thức. Nó không những bảo toàn sự đối xứng của tổng thể và đưa cả hai mặt cạnh bên ra trưng bày, mà còn có khả năng giới thiệu sự có mặt của hai góc tù từ phía trước và hình dạng từ phía trên. Như vậy, khi mặt cạnh trên lùi dần và phình ra vào chiều sâu của bức tranh, đường viền có nguồn gốc bán cầu sẽ thâu tóm tất cả các đối tượng nằm bên trong nó.

Mô hình trong minh hoạ 120, đôi khi có thể thấy trong các hình ảnh tượng đài kiến trúc, trong hội hoạ Ba-tư và Trung Hoa. Có thể (và, có lẽ, thực ra chính là như thế), mô hình này là bản tái tạo của một vật thể lục giác. Tuy nhiên về mặt tâm lý, hoàn toàn sẽ là đúng nếu xem xét nó như sự phát triển tiếp theo của hình 119b, khi việc tái tạo có sự tham gia của phép đối xứng ở phần bên trên. Nói một cách khác, hình 120 có thể dùng để mô tả một khối lập phương. Không phụ thuộc vào việc, hiện tượng này là có thật trong cuộc sống hay không, sự lặp lại thường xuyên trong một số phong cách kiến trúc tạo hình lục giác (như «đèn lồng» — cửa sổ kính trên gờ tường hoặc trên mái nhà) mang đến thú vị đặc sắc trong ý nghĩa này. Những mặt bên chếch nghiêng, nếu nhìn vào đối tượng từ phía trước, sẽ tạo ra một hình mẫu ba chiểu rõ rệt, thứ không thể có được khi nhận thức một khối lập phương.

Một bức tranh tượng Thánh của thế kỷ XVI, được tạo hình trong phối cảnh ngược. Nguồn: http://extremal-mechanics.org

Sự vi phân kích thước đối tượng, tuỳ thuộc vào khoảng cách từ chúng đến khán giả (có nghĩa khi những hình người, ngựa, cây cối có thể được vẽ nhỏ dần đi theo khoảng cách đến chủ thể nhận thức) sẽ được bộc lộ trong các bức vẽ của trẻ em lớn tuổi hơn. Một sự vi phân như vậy là cực kỳ đơn giản, bởi vì nó chỉ đòi hỏi sự xê dịch kích thước, còn hình dạng của các đối tượng vẫn được giữ nguyên như cũ. Tuy nhiên khi nguyên tắc này được áp dụng trong khuôn khổ của một và chỉ một đối tượng, nó sẽ dẫn đến một kết quả, ở đó các đường song song sẽ hội tụ và xuất hiện sự biến dạng tương ứng của các hình vuông và hình chữ nhật. Sự thay đổi này của đối tượng là đáng kể đến nỗi nó không ngẫu nhiên tự bộc lộ trong tác phẩm của trẻ thơ. Sự thay đổi này là kết quả của giáo dục và vì thế được xác định bằng các điều kiện đặc thù của văn hoá.



RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

21 Nov 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!