Cấp độ bề mặt, thông tin, hay thuyết âm mưu của nhận thức đã có trong cả hội hoạ. Tiện thể nói ngay và luôn, nhiều khán giả khó có thể tiến xa hơn được điều đó. Nghịch lý nằm ở chỗ, người ta thường nói, tranh đẹp «như ảnh», còn ảnh đẹp — «như tranh».
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

THÔNG DỊCH SANG HÌNH ẢNH HAI CHIỀU

Trẻ nhỏ dùng cách nào để giải quyết bài toán thể hiện chiều sâu và sự nổi khối, có nghĩa, thể hiện chiều đo lường thứ ba? Chắc có lẽ, để bàn về vấn đề này, đầu tiên cần nhớ lại một số luận điểm mà chúng ta đã phát biểu trước đây. Như một quy tắc, hình ảnh mỹ thuật không đặt nền tảng trên một đối tượng cụ thể nào đó được nhìn thấy trong một thời điểm nào đó từ một điểm quan sát nào đó, mà được dựa trên một hình dung trực quan ba chiều về đặc tính của các đối tượng, có được trong kết quả nhận thức sự vật qua các góc nhìn khác nhau. Thông thường, nhận thức không hàm chứa các thay đổi phối cảnh của kích thước và hình dạng, được nhận ra trong hình chiếu trên võng mạc mắt. Một hình ảnh mỹ thuật không phải là bản sao nhiệt tình mang tính máy móc của đối tượng nhận thức, mà là một sự tái tạo các tính cách kết cấu của nó dựa vào một số phương tiện cụ thể. Trí thông minh ở trẻ em vốn có sẵn hai thứ. Thứ nhất là ý thức tự phát về những đòi hỏi chính thống cần thiết có trong một bức vẽ. Thứ hai là sự ngoan ngoãn tức thời trước những đòi hỏi này. Khi hình ảnh bị gò bó trong một hình chiếu hai chiều, thì đối với mỗi một đối tượng hay mỗi một phần của đối tượng, một hình chiếu đặc trưng nhất và đơn giản nhất sẽ được lựa chọn.

Hình ảnh minh hoạ: lumiere-mag.ru

Trong các tác phẩm thủa ban đầu của trẻ em, không gian chỉ tồn tại trong khuôn khổ mặt phẳng tranh hai chiều. Các sự vật trong mặt phẳng này có thể lớn nhỏ, được đặt gần nhau hoặc đứng khá xa nhau. Phép đo lường thứ ba tạm thời chưa được vi phân hoá, có nghĩa trong bức tranh chưa có bất kỳ sự khác biệt nào giữa các đồ vật phẳng và đồ vật nổi khối, cũng như sự khác biệt giữa chiều sâu và sự phẳng bẹt. Trong các bức vẽ chập chững của mình, trẻ thơ coi các tính chất không gian của một chiếc đĩa ăn cũng giống như các tính chất của một trái bóng, cỏn các đồ vật được sắp xếp ở những khoảng cách như nhau tính từ chủ thể nhận thức. Ở giai đoạn, khi còn chưa có phép vi phân, không gian được tái tạo theo cách đơn giản nhất, có nghĩa, bằng phương tiện hình ảnh hai chiều. Tuy nhiên hình thức biểu hiện này đối với đứa trẻ không có nghĩa là phẳng bẹt. Sự khác biệt giữa phẳng bẹt và nổi khối thậm chí còn chưa xuất hiện trong tâm trí của trẻ. Mặt phẳng chỉ tồn tại trong một tổng thể ba chiều.

Thực tế, thậm chí sự lựa chọn hình chiếu, ngay từ đầu, vẫn là một cái gỉ đó chưa được vi phân. Các vật thể nổi khối không được thể hiện như chúng được nhận thức từ một điểm quan sát cụ thể. Vòng tròn, trong giai đoạn ban đầu của quá trình phát triển những khả năng mỹ thuật của đứa trẻ, còn chưa là một hình thức từ phía trước, từ phía cạnh bên hay nói chung, hình chiếu hai chiều của đối tượng được tạo hình. Nó là một thứ để tạo ra vật tương đương với một đối tượng hình tròn, và, đường viền của nó không phải là một đường nằm ngang đơn chiều, thứ đang giúp xác định biên giới của một cái nhìn phối cảnh, mà đang tượng trưng bề mặt liên tục phía bên ngoài của vật thể.

Vậy trẻ em thể hiện không gian trong trong các bức vẽ của mình như thế nào? Để hình dung tốt hơn về điều này, chúng ta nên làm quen với tiểu thuyết viễn tưởng khoa học của tác giả Еdwin А. Abbott mang tên «Thế giới phẳng». «Flatland» — đó là một vương quốc, mà ở đó (so với thế giới của chính chúng ta) mỗi sự vật chỉ sống trong một phép đo lường. Các bức tường chỉ là đường nét của các hình thù trên một mặt phẳng, nhưng chúng vẫn thoả mãn cho mục đích của mình, bởi vì trong thế giới của các mặt phẳng sẽ không tồn tại một phương pháp nào để chui vào một đường khép kín. Các quần thể của vương quốc này là các hình dạng hình học. Và chính ở đây, đường thẳng rất thành công khi đóng vai trò làm biên giới của các vật thể. Một lần, có một người lạc vào đây từ thế giới ba chiều «Spaceland». Anh ta đã nói ra hàng loạt những điều ngớ ngẩn, khi dám tuyên bố với dân chúng của «Flatland» rằng, những ngôi nhà của họ luôn luôn bị hở, bởi vì chúng cùng một lúc bị nhìn thấy từ bên trong và bên ngoài. Anh ta cũng lay hoay chứng minh với họ rằng, bằng cách tác động gián tiếp hay trực tiếp vào phần bên trong của một cái dạ dày vuông có thể khiến dân «Flatland» đau đớn. Nhưng đối với người dân «Flatland», nhà của họ là vừa không kín vừa không hở từ phía trên, bởi vì họ không có phép đo lường đó, còn các phần bên trong của người dân là vô hình và được bảo vệ không bị xâm nhập, nhờ có đường viền bao bọc xung quanh.


Những ai cho rằng trẻ nhỏ vẽ ra những ngôi nhà trống trải và những bức chụp X-quang dạ dày sẽ giống như người lớ ngớ đến từ «Spaceland». Họ không thể hiểu được một logic xuất sắc mà một trẻ thơ đang dùng để gán những bức vẽ của mình vào các điều kiện của hình ảnh hai chiều. Sẽ là thiếu sót nếu nói rằng, trẻ thơ thể hiện nội dung của các sự vật trong những bức vẽ của mình là bởi vì chúng thấy thích thú với nội dung đó. Hình ảnh một người có dạ dày hở có lẽ sẽ làm lũ trẻ bị sốc, dù chúng có thích thú đến đâu theo vốn có. Vấn đề ở chỗ, nội dung bên trong của một hình thù phẳng tượng trưng cho nội dung bên trong của một vật thể dạng khối nằm gọn trong đường viền ở mọi nơi. Suy ra, thức ăn đang có trong dạ dày (hình 141) được hiện hình, thậm chí nếu dạ dày không hở và không trong suốt. Một chủ thể nhận thức đứng ở bên trong có thể sử dụng một phép đo lường không tồn tại trong hình ảnh này. Bức vẽ thể hiện ngôi nhà là không trong suốt kể cả từ phía trước, kể cả từ mặt cắt ngang. Bức vẽ này đơn giản chỉ là vật tương đương hai chiều của ngôi nhà. Hình chữ nhật tượng trưng cho không gian của hình hộp, cho đường nét của sáu bề mặt biên giới của hình hộp. Một hình thù, được bao quanh từ mọi phía bởi các bức tường, đang nằm trong cái hộp này. Chỉ có sự đứt đoạn của đường viền mới có thể gây ra cảm giác «hở hang» của cái hộp. Nếu như trẻ thơ đã có thể hình dung rõ ràng được tất cả điều này, thì chúng đã đáp lại sự phản đối thường thấy về phương pháp mà chúng dùng để vẽ theo đúng cách mà chúng ta dùng, nếu những người lớ ngớ lạc đến từ phép đo không gian thứ tư và thông báo cho chúng ta biết rằng, nhà cửa và các vật thể của chúng ta là hở, bởi vì họ cùng một lúc nhận thức được bên trong và bên ngoài. «Kín đáo» không phải là một khái niệm tuyệt đối, nó chỉ có thể được định nghĩa trong mối quan hệ với một số lượng cụ thể của các phép đo. Trẻ thơ tìm ra giải pháp thuyết phục nhất cho một vấn đề mỹ thuật đang gặp bế tắc — làm cách nào để truyền đạt nội thất của một đối tượng kín. Phát minh của trẻ thơ đã đi trước thời đại hàng thế kỷ. Thậm chí trong một bức tranh khắc siêu tả thực của Albrecht Dürer¹ một gia đình thánh được vẽ nằm trong một toà nhà không có tường trước và vì thế toà nhà này không được nguỵ trang thuyết phục trong đống đổ nát. Nghệ thuật trang trí sân khấu hiện đại được tất cả chúng ta chào đón mà không có bất kì một thắc mắc nào, trong khi vẫn có người lên án trẻ thơ liên quan tới các «bức vẽ X-quang».


Như hình 141 đang chỉ ra, hình ảnh mái tóc trong các bức tranh dạng đó được truyền đạt bằng hàng loạt các que đính vào đường viền của đầu. Điều đó hoàn toàn đúng, bởi vì đường tròn đang tượng trưng cho toàn bộ bề mặt hoàn thiện của phần đầu. Như vậy, phần đầu được trình bày theo cách mà nó cần thể hiện, có nghĩa được phủ tóc từ mọi hướng. Tuy nhiên phương pháp này vốn có một sự bất định, phát sinh từ việc trẻ thơ khăng khăng sử dụng phương pháp này nhằm đạt được hai mục đích khác nhau và thậm chí không tương thích với nhau. Trong bức vẽ này, khuôn mặt, trong mọi khả năng, không nằm trong phần đầu, mà được ghép vào bề mặt bên ngoài. Hai đường nghiêng là hai tay, chứ hoàn toàn không phải là áo choàng đang phanh cúc buông thõng xuống từ vai và chùm kín khắp thân thể. Nói cách khác, những đơn vị hai chiều của bức vẽ là những tương đương của các vật thể có khối và (hoặc) những hình chiếu hai chiều của phần ngoài những vật thể có khối (tuỳ thuộc vào điều gì đang cần thiết). Tương tác giữa chiều sâu và mặt phẳng là không thể vi phân. Vì thế nếu chỉ nhờ các phương tiện thị giác thuần tuý không thể nói được gì về việc, đường tròn là biểu tượng của nhẫn, cử đĩa hay của khối cầu. Chỉ vì sự bất định này mà phương pháp kia được áp dụng chủ yếu trong các cấp độ sơ khai nhất (chẳng hạn, trong các tác phẩm mỹ thuật của thổ dân Úc) và bị gạt sang một bên bởi các trẻ em sống ở phương Tây.


Quá trình này được mô phỏng trực quan bằng các kết quả thực nghiệm được tiến hành bởi Arthur Clarke, khi một số trẻ em ở các độ tuổi khác nhau được đề nghị vẽ ra một quả táo có một cái que xuyên ngang qua và quay đi một góc nào đó so với khán giả ¹. Hình 142d cho thấy thực trạng của mô hình trong mắt trẻ lớn tuổi. Cách giải quyết vấn đề đầu tiên được thể hiện ở hình 142a. Hoàn toàn hợp lý khi cái que dễ dàng xuyên qua phần bên trong của vòng tròn như phần bên trong của quả táo. Nhưng vô tình sẽ xuất hiện một sự mập mờ, được tóm tắt như sau: một đường thẳng dứt khoát sẽ tượng trưng cho một đối tượng một chiều (cái que), chứ không phải là một bề mặt. Ở giai đoạn sau (hình 142b) trẻ thơ sẽ tiến hành bước đầu tiên trong cải tổ hình ảnh và vẽ theo các định luật chiếu hình, sao cho phần giữa của cái que bị ẩn đi trong quả táo (trẻ ít tuổi hơn có lẽ sẽ hiểu đó là hai cái que dính vào hai mặt bên của quả táo). Song, đường viền của vòng tròn dù sao vẫn tượng trưng cho bề mặt chung của quả táo. Điều này chỉ ra một dữ kiện rằng, cái que chưa xuyên qua được đường viền của vòng tròn. Ở hình 142c, đường viền có dạng đường nằm ngang, còn không gian của vòng tròn — hình quả táo từ chính diện. Sau một số thay đổi, hình dạng này tiến đến một kết quả hiện thực chủ nghĩa (hình 142d). Hình ảnh này là một giải pháp nhất quán về mặt không gian. Tuy nhiên, để hy sinh cho sự tuyệt đối rõ ràng trong nhận thức trực quan, mà nhờ đó có thể tái tạo lại được bản chất của một hình dung về khối, các tính chất và đặc điểm của một hình ảnh hai chiều đã được ưu ái hơn cả (hình 142a). Ranh giới giữa hình ảnh hai chiều và ba chiều đã được xác định, nhưng đó mới chỉ là cách thức còn gây nhiều tranh cãi, nó bắt buộc một bức tranh hai chiều nhìn có vẻ như một không gian ba chiều. (Hãy so sánh ví dụ này với ví dụ mà chúng ta đã đề cập để bàn về việc làm cách nào để thể hiện một cái ao có các cây cối bao vòng quanh trên bờ.)

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

17 Nov 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!