Hoạ sỹ nói thật, còn nhiếp ảnh gia nói dối, bởi vì trong thực tế, thời gian chưa bao giờ dừng lại.
François-Auguste-René Rodin 
(1840 - 1917)

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ TÍNH THẲNG VÀ TÍNH GÓC CẠNH ​

Chùm sáng trong mô hình mặt trời thường thấy nhất là được tạo thành từ các đoạn thẳng. Trong những điều kiện này sự lựa chọn một hướng cụ thể, có trong hình dung về một đoạn thẳng, được bù trừ bằng sự sắp xếp đối xứng của một tập hợp các đoạn thẳng bao trùm về mọi hướng với cấp độ như nhau. Trong một tư duy đã biết, hình ảnh mặt trời còn chưa đi quá xa khỏi tiến trình, khi tất cả các sự vật đều được thể hiện bằng phương tiện các hình tròn. Cũng cần nhấn mạnh rằng, sử dụng các đoạn thẳng riêng rẽ để thể hiện các vật thể ba chiều, đó là điều rất hiếm gặp. Thường thấy nhất, chúng bổ trợ cho một hình thù đã rõ đường viền. Các tia của chùm sáng kết nối với nhau ở tâm vòng tròn, các chi kết nối với nhau ở phần thân. Georg Kerschensteiner ¹, người đã nghiên cứu một số lượng lớn các bức vẽ của trẻ em, đã tuyên bố rằng, ông đã không tài nào phát hiện ra «những con người hình que», có phần thân không được tạo thành từ các đoạn thẳng. Chắc có lẽ, theo ý của ông, đó chỉ là một phương pháp tạo hình của người lớn. Hoàn toàn thấy rõ rằng, bức vẽ cần chứa đựng ít nhất một đơn vị hai chiều để truyền tải chất lượng không gian của «vật chất» bằng một phương pháp thỏa mãn được đứa trẻ. Những hình dạng dãn dài, hình oval thường được sớm sử dụng để kết hợp tính không gian với «tính định hướng», ví dụ trong hình ảnh phần thân của người hoặc con vật.

¹ Georg Michael Kerschensteiner: Một nhà sư phạm người Đức.


Về bản chất, đường thẳng — đó là sự tạo dựng ra con người. Nó khiến anh ta phải kính phục vì sự đơn giản thị giác và lợi thế diện mạo cơ khí. Cơ thể của con người không có bất cứ một đường thẳng nào, và, để có đường thẳng đó trên hình vẽ, chúng ta cần làm một quá trình cơ động phức tạp. Hình 123, trong dạng sơ đồ, chỉ ra sự thay đổi phức tạp của vận tốc, góc và hướng, những thứ bắt buộc phải có trong điều kiện, nếu tay đòn (tự quay quanh điểm C) cần cẩn thận vẽ ra được một đoạn thẳng (L) với một vận tốc không đổi. Đối với đứa trẻ, vẽ ra được một đoạn thẳng — là một việc khó. Tuy nhiên dữ kiện về việc đứa trẻ rất thường sử dụng đường thẳng nói lên rằng, trẻ con đánh giá cao sự đơn giản về mặt thị giác của nó.


Khác với đường cong, đường thẳng nhìn có vẻ thô cứng và bị gò bó. Vì nguyên nhân đó, sự thẳng đuỗn của chân, tay hay các ngón tay trong các bức vẽ thời kì đầu của trẻ con đôi khi được diễn giải không đáng tin cậy như một sự biểu hiện của một tính cách quá cứng rắn, hoặc, như một phương pháp thể hiện cảm giác siêu tức thời «đóng băng ngay tại chỗ», chẳng hạn, do sợ hãi tột cùng. Có thể chú ý tới những dự đoán tương tự như thế chỉ trong trường hợp, nếu như hình dung khái quát về đường thẳng tiếp tục thống trị sau giai đoạn mà đứa trẻ đã học được hoặc cần phải học được cách tiếp cận với các đường uốn cong. Về mặt trực quan thì các đường méo mó là ít đơn giản hơn, so với các đường thẳng (ở đây tôi không có ý nói đến đường viền của các hình tròn hay hình oval). Chừng nào «tính định hướng» còn chưa được vi phân, nó còn được thể hiện bằng phương tiện đường thẳng như một kết cấu đơn giản nhất có thể có. Người lớn, khi ngắm nhìn thế giới của trẻ con qua lăng kính thế giới cảm nhận của mình, cần nhớ rằng, hình dung tổng quát về đường thẳng đề xuất một giá trị đặc thù của nó, chỉ khi nào ý nghĩa của khái niệm «phi tuyến tính» đã được làm sáng tỏ.


Một sự giải thích sai lầm về các giai đoạn đầu của quá trình phát triển thẩm mỹ dựa trên cơ sở các giai đoạn sau — một hiện tượng khá hay gặp trong lịch sử nghệ thuật. Heinrich Wölfflin đã cho rằng, không được phán xét như thế về «sự khe khắt» của các hình ảnh cổ xưa, chẳng khác nào vào thời đó tất cả đã đều biết rõ về «Formmoglichkeiten» (tài nguyên biểu mẫu). «Hiệu ứng bất kỳ — đó là thứ tương đối. Một và chỉ một hình thức không có nghĩa nào cố định suốt mọi thời đại. Ý nghĩa của đường thẳng đứng trong các bức chân dung cổ điển là khác với ý nghĩa của đường thẳng đứng trong các hình ảnh của con người nguyên thủy. Trong một trường hợp thì đường thẳng đứng — đó là hình thức duy nhất của hình ảnh, trong trường hợp khác — nó đã tách bạch khác xa các khả năng khác, và, đạt tới, bằng cách đó, sự biểu cảm đặc thù của mình» ².

² Н. Wolfflin, Gedanken zur Kunstgeschichte, Basel, 1941, S. 79.


Cũng có thể nói như thế về cả những phương tiện để chỉ ra những hướng khác nhau, sơ khai hơn. Một người lớn, đặc biệt nếu người này còn là bác sỹ tâm lý trẻ em, sẽ cố gắng diễn giải hai cánh tay mở rộng như một cử chỉ để thể hiện sự thất vọng, hoặc, tuyên bố về sự bất lực (hình 126). Thực ra, hai cánh tay mở rộng chẳng có nghĩa gì cả, ngoài việc chúng là hình ảnh rõ ràng nhất về mặt thị giác để chỉ ra rằng, giữa các cánh tay và phần thân mà chúng được đính vào đang có một sự khác biệt về hướng. Bởi vì sự khác biệt về hướng là chưa được vi phân, nó được truyền đạt trong một hình thức có kết cấu đơn giản nhất — như một mối liên hệ vuông góc. Hình 124 mô phỏng thử nghiệm của các trẻ bốn tuổi, vẫn là với phương pháp đã được thành tựu, kết hợp các đồ vật tròn với các đồ vật kéo dài.


Các mối quan hệ «thẳng đứng — nằm ngang» phải trải qua một chặng đường dài trong quá trình hoàn thiện các bức vẽ thể hiện hình thù con người, cây cối và muông thú của trẻ em. Hình ảnh đơn giản về một con chó (xem hình 125) được xây dựng toàn bộ trong hệ thống không gian này. Hình 126 — «Mẹ và con gái» — mô phỏng một hằng số mà dựa vào đó, một chủ đề phức tạp đang tuân thủ định luật hình dạng đó. Kết cấu chung của hai hình thù bám sát theo hai hướng cơ bản, còn hình vẽ cái váy, tất chân và giầy, cũng như hình ảnh hàm răng và các nếp nhăn nhân hậu trên trán của người mẹ (giúp phân biệt mẹ với con gái), trong một cấp độ cân xứng là đang tuân theo định luật này một cách logic. Nhiều hoạ sỹ có cơ sở đầy đủ để ghen tị với kỷ luật bất khuất mà trẻ em dựa vào đó để tổ chức thực tại, cũng như với sự trong sáng mà trẻ em dùng để diễn giải một nội dung có ngụ ý. Một bức vẽ cũng có thể mô phỏng cho sự tiếp diễn của các tiến trình sơ khai của hình ảnh mỹ thuật, kể cả khi đứa trẻ đã đạt được trình độ cao hơn. Để biểu hiện mái tóc trên đầu, lũ trẻ tiếp cận tới một chuyển động vô tổ chức giống như thời chúng còn chỉ biết vẽ nguệch ngoạc, bằng cách sử dụng đường zigzag có kiểm soát trong chừng mực và các hình dạng xoắn ốc. Các dạng tròn và hình tròn với các tia phân kỳ về mọi hướng xuất hiện trên má của người mẹ, ở tay phải và trong đôi mắt của người mẹ, và vì thế, rõ ràng thấy, tay phải ánh xạ tới tiến trình chuyển đổi từ các quan hệ vuông góc sang một cấp độ cao hơn của mối liên kết giữa các hình dạng. Cuối cùng, hình 127, là bản sao của một bức vẽ màu bột, phức tạp hơn, cho thấy, bằng cách nào mà một và chỉ một phương tiện chính thức — mô hình dạng chữ T «thẳng đứng – nằm ngang» — lại rất sắc xảo: nó được sử dụng để tái tạo hai thứ quá khác nhau: phần cổ, phần thân của một cô bé và kết cấu của đèn tín hiệu giao thông. Chỉ có một số lượng khổng lồ của các ví dụ mới có thể mách nước cho chúng ta biết ý tưởng về sự giầu có không bao giờ cạn kiệt của các phát minh chính thức, những thứ được trẻ em bóc tách ra từ sự phụ thuộc «thẳng đứng – nằm ngang» giản dị. Mỗi một cách giải quyết chính thức của chúng luôn luôn là mới lạ đến mức khó tin, và đồng thời cũng là cực kỳ chân thực để phản ánh hình dung cơ bản về đối tượng.


Cũng giống như tất cả các phương tiện tạo hình, sự phụ thuộc «thẳng đứng – nằm ngang» ban đầu được xử lý chi tiết trong khuôn khổ các phần bị cô lập, và, chỉ sau đó mới được áp dụng vào không gian chung của bức tranh. Trong các bức vẽ sơ sài, một hình thù được tổ chức tốt, một khi còn chưa liên kết đầy đủ với các hình thù khác, hoặc với mặt phẳng tranh nói chung, có thể bơi trong không gian. Trong hình 127, toàn bộ hình ảnh, kể cả biên giới hình chữ nhật của tờ giấy chứa đựng bức vẽ này, là phép tích hợp về mặt không gian. Sự sắp xếp thẳng đứng của các hình thù, cây cối và các biển hiệu được nhận thức một cách tương đối so với sự nằm ngang của phàn chân đế. Bức tranh biến thành một thể thống nhất trong nhận thức thị giác, trong đó mỗi một chi tiết chiếm giữ một vị trí được xác định rõ ràng trong tổng thể toàn vẹn.

RUDOLF ARNHEIM, "Nghệ thuật và nhận thức thị giác", 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

5 Nov 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!