Từ cổ chí kim chưa từng có tiền lệ về một người có khả năng sáng tạo trước khi anh ta được học về nghệ thuật. Thiếu sự bất ngờ khách quan, một trò chơi chủ quan sẽ biến tướng thành một trò hề nhạt nhẽo, thứ không gây ngạc nhiên và không thể gây ngạc nhiên. Thủ pháp khác với thủ đoạn ở chỗ, cái thứ hai có thể bị vạch trần, còn cái thứ nhất thì không. Nghệ sỹ, ai cũng muốn làm nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật là cái quái gì? Chỉ cần đúng ba từ thôi: «gây ngạc nhiên», nhưng cần thêm vào hai chữ nữa — «vô thức». Nhưng trước khi gây ngạc nhiên trong vô thức, nghệ sỹ phải biết tự ngạc nhiên có ý thức.
MiukaFoto 
(born in 1972)

ĐỊNH LUẬT VI PHÂN ​

Trong trường hợp này, chúng ta tiếp cận với ví dụ đầu tiên về cái mà tôi tạm gọi là định luật vi phân. Tương ứng với định luật này, sự đặc biệt của nhận thức về một đối tượng, chừng nào nó còn chưa được vi phân, sẽ diễn ra theo cách đơn giản nhất có thể có. Hình tròn — hình dạng tối giản, có tronng chỉ thị của các phương tiện tạo hình. Chừng nào một hình dạng chưa được vi phân, hình tròn sẽ không tượng trưng cho một khái niệm tổng quát về đường tròn, mà sẽ ký hiệu cho một hình dạng bất kỳ nói chung và không phải ký hiệu riêng cho một hình dạng riêng lẻ nào. Trong tư duy và hoạt đông tạo hình của một người lớn, các đối tượng cũng thường được thể hiện dưới dạng các điểm, các hình tròn hay các vật thể dạng cầu, khi hình dạng thực sự của chúng còn là ẩn số hoặc còn chưa đồng thuận với mục đích của hình dạng này. Điều đó có liên quan tới hiểu biết của chúng ta về các phần nhỏ nhất trong vật lý hạt nhân, hoặc về các khái niệm của các nhà nguyên tử Hy Lạp cổ đại. Các thể cầu, đia tròn và hình dạng nhẫn đã đi vào các thuyết học của quá khứ như những mô hình hình dạng của trái đất và vũ trụ, bởi vì những kết luận này đã vừa dựa trên quan sát, vừa dựa trên một cố gắng tiến tới thể hiện một hình dạng chưa từng được biết đến hay những quan hệ không gian theo cách đơn giản nhất có thể, ở những mức độ tin cậy khác nhau. ​

Figure 96 ​

Suy ra, những hình ảnh khởi đầu về hình tròn đã đi trước cả phép sao chép chính xác các hình dạng cầu. Như một bước tiếp theo trong tiến triển từ đơn giản đến phức tạp, có thể nhắc tới những tổ hợp cơ bản của những hình tròn. Hình 96 là một ví dụ của việc, trẻ nhỏ thực nghiệm với sự dàn trải đồng tâm của các hình tròn hoặc sự sắp xếp các hình tròn bé bên trong các các hình tròn lớn. «Nội dung là ở bên trong bản thân» là, có lẽ, dạng đơn giản nhất của tương tác không gian giữa các đơn vị tạo hình, mà trẻ nhỏ học cách nắm bắt. Trong một cấp độ cụ thể hơn, hai vòng tròn đồng tâm, rõ ràng, được sử dụng cho hình ảnh cái tai có lỗ tai, hoặc, hình ảnh cái đầu có khuôn mặt. Chủ đề được hoàn thiện dần dần, cho phép miêu tả con người trong tàu hoả hay trong nhà riêng, thức ăn nằm trong đĩa, cơ thể mặc áo bành tô. ​

Figure 97 ​

Các hình tròn đồng tâm còn chưa chứa đựng trong mình phép vi phân của hình dạng hoặc vi phân của hướng. trong một tiến tình nhất định, trẻ nhỏ thể hiện chùm tia sáng của mặt trời bằng các vẽ các đoạn thẳng toả ra từ hình tròn trung tâm hoặc từ tổ hợp các hình tròn đồng tâm. Một mô hình có thể được sử dụng như một tác phẩm tự tại (hình 97,a), trong các cấp độ vi phân khác nhau, nó có thể tái lập như một bông hoa (b), như một cái cây có lá (с), như vành đội đầu của thổ dân da đỏ (d), như ao có cây cối xung quanh (е), như cây có cành (f), như đầu người có tóc (g), như bàn tay có các ngón tay (h), như mặt trời có tâm lửa hay bóng điện (i), như một người đang chạy (k). Tất cả các ví dụ này đều là mô phỏng tốt cho việc, một lần nào đó, một mô hình thành tựu chính thức, được sử dụng để mô tả ít nhiều về nhận dạng các đối tượng đa dạng có kết cấu tương ứng. ​

Để nói vào ví dụ, chúng ta hãy xem xét hình ảnh 97i. Nếu như bên trong hình tròn được tô màu đỏ, còn phần ngoài — màu vàng, thì hình vẽ này của cũng một đứa trẻ đó có thể vừa thể hiện mặt trời, vừa thể hiện bóng điện. Các hình 97g, h, k chỉ ra rằng, để giữ thế đối xứng kết cấu đơn giản chung cho đối tượng, có thể áp dụng một lực cụ thể. Cách sử dụng mô hình một lần có được đó cho một số lượng lớn các vật thể đa dạng (lúc này thường xảy ra mất mát ít nhiều tính chân thật) có thể được phát hiện ra thậm chí trong các cấp độ cao của tư duy con người, ví dụ, trong nhận thức lý thuyết. Bỏ qua các nhược điểm, bất kỳ sự áp dụng một mô hình của hiện tượng thực tại có tổ chức tốt như thế cũng cần được xem xét như một sự khéo léo trong sáng tạo của lý trí con người, thứ mà có ít điểm chung với sự bắt chước hay mô tả cơ học. ​

Chỉ khi có hứng thú với việc tạo ra một thuyết học hệ thống mới có thể hình dung được sự phát triển của hình dạng như một tuần tự tiêu chuẩn của các cung bậc khác nhau rõ ràng. Quả thật, sẽ là khả thi và có lợi, nếu cô lập các pha đa dạng và phân loại chúng theo mức độ phức tạp tăng dần. Tuy nhiên tuần tự lý tưởng này chỉ khi mang hình thức thô lỗ thì mới tương ứng được với điều gì đang diễn ra trong mỗi một ví dụ cụ thể. Những trẻ em khác nhau sẽ nằm trong các cấp độ phát triển khác nhau xuyên suốt những giai đoạn riêng biệt. Chúng, có lẽ, bỏ qua một số cung bậc, và liên hiệp các cung bậc còn lại theo cách riêng. Cá tính của đứa trẻ và ảnh hưởng của môi trường xung quanh là nguyên nhân của tất cả các biến thể này. Sự hình thành kết cấu nhận thức chỉ là một trong những yếu tố (bị che tối và biến dạng bởi các yếu tố khác) trong quá trình phát triển các khả năng thông minh nói chung. Ngoài ra, khi đạt tới những tiến trình cao cấp hơn, đứa trẻ vẫn giữ lại những điểm đặc biệt của những tiến trình trước đó; khi va vấp phải khó khăn, trẻ có thể quay lại giải pháp nguyên thuỷ. Hình 96 chỉ ra một thực nghiệm với các vòng tròn đồng tâm, nhưng cũng chính vào lúc đó là sự lựa chọn các hướng nằm ngang bị dồn thành một hình thù kéo dài bao gồm hàng loạt các hình tròn, đã chỉ ra một mức độ cao cấp hơn. Các mô hình đơn giản về chùm tia sáng mặt trời trong hình 97 có thể được gặp thấy ở các bức vẽ chứa đựng những hình dạng khá phát triển về con người, cây cối và nhà cửa. ​


Cũng cần đánh dấu rằng, không tồn tại một quan hệ bất biết giữa lứa tuổi và cấp độ tranh vẽ của trẻ nhỏ. Giống như khi, trẻ em ở một và chỉ một lứa tuổi sẽ phân tán ra vào những cái được gọi là lứa tuổi thông minh hay lứa tuổi trí tuệ, thì giai đoạn tinh tường cá thể của chúng cũng được ánh xạ sang các bức vẽ. Ý đồ xác định quan hệ giữa khả năng thông minh của trẻ em và khả năng vẽ của chúng đã được đưa ra bởi nhà tâm lý học Florence L. Goodenough trên cơ sở các tiêu chí khá cơ học của hiện thực chủ nghĩa, cũng như dựa trên tính hoàn tác của chi tiết¹. Có lẽ sẽ là có ích hơn, nếu hoàn thiện công trình này bằng cách sử dụng các tiêu chí kết cấu khi đánh giá các bức vẽ, và bằng cách chú ý tới các phương pháp chỉnh chu để định nghĩa sự tinh tường nói chung, thay vì chỉ tập trung vào các bài kiểm tra để phát hiện ra khả năng thông minh. ​

¹ F. L. Goodenough, Measurement of intelligence by drawings, Yonkers. ​

RUDOLF ARNHEIM, "Nghệ thuật và nhận thức thị giác", 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

29 Oct 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!