Nghệ thuật — đó là khi biết cách làm ra một thứ gì đó từ không có gì và bán nó.
Frank Vincent Zappa 
(1940 - 1993)

VÒNG TRÒN ĐẦU TIÊN ​

Theo dõi, một hình dạng có tổ chức được lộ diện từ nét vẽ nguệch ngoạc của trẻ nhỏ theo cách như thế nào, — điều đó có nghĩa, nhìn thấy một trong những hiện tượng kỳ diệu nhất của thiên nhiên. Khán giả không thể không hồi tưởng tới một quá trình đầy sáng tạo khác, quá trình hình thành những chuyển động xoáy trong vũ trụ và sự tạo dựng những vật thể dạng cầu từ vật chất khí quyển. Những hình dạng uốn tròn từ từ xuất hiện trong những «đám mây mờ» của những mảng miếng rích rắc. Trước hết, chúng là kết quả của những sự lặp lại có chu kỳ của những chuyển động tròn — là các dấu vết đọng lại của chuyển động tay tương ứng. Đồng thời, chúng minh chứng cho việc làm mềm mại hoá hay đơn giản hoá các đường cong méo, những điều luôn luôn diễn ra cùng một lúc với quá trình tiếp thu vận động. Trải qua một thời gian nào đó, hành động bất kỳ nào của tay cũng trở thành một chuyển động mượt mà, tạo ra một hình dạng đơn giản. Những con ngựa, khi chuẩn bị đổi hướng phi qua cổng vựa, sẽ thể hiện một đường cong tuyệt vời. Đường đi có dạng tròn của những con chuột, lởn vởn trong mê cung ngoặt vuông, và những đường xoắn ốc kỳ diệu của những đàn bồ câu, — đó là những ví dụ tiếp theo về kỹ năng vận động như thế. Lịch sử chữ viết chỉ ra rằng, những đường cong thay thế cho những đường nhọn, còn sự liên tục thay thế cho sự rời rạc. Việc ký tên chậm chạp cũng bị thay thế bằng kiểu chữ viết nhanh. ​

Henri de Toulouse-Lautrec: Jockey, Lithograph

Nhờ có nguyên tắc của sự đơn giản khi nhận thức thị giác, tròn trịa là hình dạng được ưu tiên. Đường tròn với sự đối xứng tâm của nó, không phụ thuộc vào hướng, là một mô hình nhận thức thị giác đơn giản nhất. Chúng ta đã biết rằng, nhận thức tự động tiến tới sự tròn trịa, khi kích thích trao cho nó cơ hội đó. Chú ý của chúng ta bị thu hút bởi tính hoàn thiện của hình dạng tròn. Chẳng hạn, dạng tròn của đồng tử làm cho con mắt của muông thú trở thành một hiện tượng thị giác đáng kinh ngạc nhất trong thiên nhiên. Con mắt giả trên cánh bướm tạo ra sự đánh lừa cho những đối thủ mạnh, còn ở loài bò sát, cá và chim muông thì có những phương tiện nguỵ trang, cho phép che giấu đĩa đồng tử thực sự của chúng. Các thực nghiệm đã được tiến hành bởi Charlotta Rice¹ đã chỉ ra rằng, khi trẻ nhỏ chọn ra từ bộ sưu tập các hình dạng khác nhau, chúng thường chọn các hình tròn, thậm chí nếu người ta yêu cầu chúng tìm tòi các hình thoi. Sự ưu tiên về mặt nhận thức đối với hình dạng đơn giản tròn trịa trong các bức vẽ của trẻ nhỏ là có yếu tố di truyền, được thể hiện trong lợi thế của hình tròn trước các hình dạng hình học khác. ​

Một khi sự kiểm soát thị giác bắt đầu thống trị các kích thích vận động, các chuyển động xoay vốn có tính cách ngoan cố bắt đầu thay đổi ít nhiều về các đường nét nhất định, mà đôi mắt chúng ta có thể hiểu tường tận. Để khiến một điều gì đó trở nên tường tận, có tổ chức và hoàn thiện, trẻ nhỏ cần có một kinh nghiệm khác thường. Thực ra, chúng tiếp tục thử đi thử lại bằng cách làm việc tập trung với một sự thoả mãn dễ nhận thấy, và đưa ra một số lượng khổng lồ của các ý đồ, mà người lớn có thể sai lầm khi diễn giải như những sự «tái diễn». Đối với trẻ nhỏ, hình tròn cùng với các biến thể đơn giản của nó sẽ đề xuất, có lẽ, những khả năng bất tận cho thực nghiệm, giống như, cơ thể phụ nữ đã ảnh hưởng tới Matisse.

¹ Сh. Rice, The orientation of plane figures as a factor in their perception by children. «Child Development», 1930, v. 1, p. 133. ​

Đường nét — đó là nguyên tố cơ bản trong các bức vẽ của trẻ nhỏ — được các nhà thực nghiệm coi là phép trừu tượng thuần tuý. «Trong thiên nhiên không tồn tại bất kỳ một đường nét nào», — họ khảng định như vậy. Các đường nét quả thực là trừu tượng tuyệt đối, nếu chúng ta chỉ so sánh các bức vẽ với thực tại «nhiếp ảnh». Tuy nhiên nếu hiểu hình ảnh như một sự dựng lại một tương đương kết cấu, chứ không phải như sự nhân đôi theo kiểu cơ học và nếu nhớ lại rằng, đường nét được tạo ra bởi một hành vi vận động thông qua các phương tiện tạo hình, thì chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, một nét bút đơn cỡ sẽ là phép tái tạo cực kỳ cụ thể và thẳng tuỗn của một hình dạng đang được nhận thức.

Figure 93 ​

Tiếp cận với đoạn thẳng là việc chứa đựng đầy những bất ngờ. Khi người ta làm việc với đoạn thẳng, ngay lập tức, nó bộc lộ tính cách nước đôi của mình. Đoạn thẳng có thể là một đối tượng nhận thức thị giác độc lập, nằm trên một phần bề mặt của một nền móng đồng nhất (như hình 93a chỉ ra một đoạn cắt theo kiểu sơ đồ). Tuy nhiên, ngay sau khi một đoạn thẳng (hay một tổ hợp các đoạn thẳng) xâm lược một không gian xác định, tính cách của nó bị thay đổi đến tận gốc rễ và đoạn thẳng đã trở thành một đường nét hoặc đường viền. Giờ đây nó chính là biên giới của một bề mặt hai chiều, được phân bố ở phần phía trên của toàn bộ diện tích chân móng. Tương tác của đoạn thẳng với các bề mặt đứng kề sát, sẽ không còn là đối xứng nữa. Bây giờ nó đã thuộc về bề mặt phía bên trong, nhưng vẫn cứ là một đối tượng độc lập khỏi bề mặt bên ngoài (hình 93b).

Không gian bên trong tạo ra ấn tượng khăng khít hơn, nó có vẻ cứng cáp hơn, trong khi chân đế lại là ít khăng khít hơn, và, bị giới hạn bởi mặt phẳng bền vững kia trong một cấp độ yếu hơn. Chắc có lẽ, ấn tượng này xuất hiện từ các hành động của chúng ta đối với các đối tượng vật lý, là những thứ được nhìn thấy trên nền một không gian trống rỗng bao quanh chúng. Tuy nhiên các thực nghiệm đã minh chứng rằng, sẽ có xác suất cao hơn nếu giải thích điều đó bằng các dữ kiện sinh lý, nằm trong cơ sở của chính những quá trình nhận thức mà không bị phụ thuộc vào kinh nghiệm đã có trước đây. Những thực nghiệm này đã chỉ ra rằng, một không gian, bị gói ghém trong giới hạn của đường viền, sẽ gây ra một phản kháng tăng dần chống đối lại hình thức bề ngoài của một đối tượng nhận thức thị giác được chiếu hình lên mặt phẳng này, mãnh liệt hơn nhiều, so với khi điều đó được gây ra bởi cơ sở nền móng bên ngoài. Bởi vậy, để làm cho đối tượng nổi bật bên trong đường viền, không gian đó đòi hỏi một sự chiếu sáng mạnh hơn. Các thực nghiệm khác đã chứng minh, các đối tượng nhận thức thị giác sẽ bị co kích thước lại, khi hình ảnh của chúng rơi vào võng mạc của mắt, nơi mà sớm hơn một chút đã xảy ra phép chiếu đường nét của hình thù. Như vậy, độ đông đặc hay độ kết dính nhận thức được của môi trường xung quanh, chắc có lẽ, không phải là kết quả của một đề xuất thuần tuý dựa trên kinh nghiệm có được trong quá khứ.

Figure 94 ​

Đối với một hoạ sỹ người lớn, hành vi vận động diễn ra trong quá trình vẽ chỉ là phương tiện để đạt mục đích. Ở trẻ nhỏ, có thể nhận ra nguồn gốc của bức vẽ dựa vào điệu bộ, bởi vì trong vòng nhiều năm, đứa trẻ vẫn tiếp tục coi hành vi vận động là một phần của hình ảnh. Hình 94 có bản quyền thuộc về một bé gái bốn tuổi, vẽ một người đang làm việc trong vườn. Những đường xoắn ốc ở bên phải thể hiện một chiếc máy cắt cỏ, không những chỉ bởi vì, những đường tròn lặp đi lặp lại truyền tải chuyển động tính cách của cỗ máy một cách trực quan, mà còn bởi vì chính những chuyển động như thế trong quá trình vẽ được thực hiện qua tay của trẻ con. Cũng trong chính ý nghĩa này, đối với trẻ con, có một giá trị lớn nằm trong tuần tự mà các phần khác nhau của đối tượng được vẽ ra, thậm chí nếu trong bức tranh không có gì liên quan tới điều này được chỉ ra. Chẳng hạn, trẻ nhỏ đầu tiên sẽ vẽ hình thù người và chỉ sau đó mới vẽ quần áo cho hình thù đó. Nói riêng, những trẻ kém thông minh và những trẻ có thị lực kém, trong quá trình vẽ sẽ cảm thấy hài lòng mà chỉ cần những liên kết tạm bợ của những vật riêng rẽ thuộc về nhau. Chúng hoàn toàn không quan tâm đến việc tái tạo mối liên hệ này trên giấy một cách trực quan, mà vẽ mắt, tai, miệng, mũi và các phần khác của mặt vào khắp tờ giấy một cách hoàn toàn vô kỷ luật.

Không có bất kỳ cơ sở nào để ngộ nghĩ rằng, nói chung, trẻ nhỏ phát minh cho chính mình một hình dạng đường tròn bằng phương tiện tái tạo các đối tượng tròn trịa mà chúng đã quan sát được. Có lẽ, xu hướng tiến tới một hình thức đơn giản trong hành vi thị giác và vận động đóng một vai trò tiên phong trong quá trình này. Thậm chí kể cả trong trường hợp đó toàn bộ kinh nghiệm nhận thức được tìm thấy trong tương tác, và, một khi trên mặt giấy xuất hiện một hình tròn, đứa trẻ sẽ tiếp xúc với một hình dạng như thế của các đối tượng nhận thức từ môi trường xung quanh. Nếu như, không một bức vẽ nào bộc lộ mình trong kết quả của mong muốn sao chép vật này hay vật khác, thì cũng y hệt như thế, không một đối tượng dạng tròn nào lại sao y bản chính bằng phương tiện mang tên hình tròn.

Figure 95

Sau khi trẻ nhỏ, trong lúc tìm tòi các phương tiện mới, tự phát hiện ra rằng, hoạt động sáng tạo của chúng là hình ảnh của các vật cụ thể, vòng tròn bắt đầu giúp chúng nhận thức hầu như tất cả các đối tượng nói chung, chẳng hạn như, hình người, nhà cửa, xe cộ, sách vở và thậm chí các răng của lưỡi cưa. Tất cả những thứ này được mô phỏng rõ ràng trong hình 95, được thực hiện bởi một bé năm tuổi. Sẽ là sai lầm nếu khảng định rằng, đứa trẻ né tránh hay làm biến dạng những đối tượng này, bởi vì chỉ trong cách nhìn nhận của một người lớn, bé này đang thể hiện chúng như những đường tròn. Thực ra, hình tròn không có trước các hình dạng có thể tiếp cận được nào khác, như, thẳng tuỗn hay góc cạnh. Trong tiến trình tái tạo hình tròn, đường tròn hoàn toàn không bị vi phân. Hình tròn không tượng trưng cho một khái niệm tổng quát nào về đường tròn, mà chỉ có nghĩa là một tính chất chung hơn của «vật chất», có nghĩa, tính nhỏ gọn của một đối tượng có khối, khác hẳn với phông nền bất định.

RUDOLF ARNHEIM, "Nghệ thuật và nhận thức thị giác", 1974. Lược dịch và biên tập: MiukaFoto.

27 Oct 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!