Nhiếp ảnh gia vĩ đại chụp cũng nhiều như nhiếp ảnh gia vĩ trung bình. Bù lại, người thứ nhất biết xóa ảnh theo cách vĩ đại.
MiukaFoto 
(born in 1972)

THUYẾT TRÍ TUỆ

Hoài cổ nhất và cũng phổ biến nhất tính đến thời điểm hiện tại - là giải thích sau đây*. Người ta cho rằng, trẻ nhỏ không vẽ những thứ chúng nhìn thấy. Bởi vậy ở trẻ nhỏ, xu hướng biến dạng vật ảnh xuất phát không phải từ nhận thức, mà từ các quá trình tâm lý khác. Hoàn toàn thấy rõ, trẻ nhỏ bị giới hạn trong hình ảnh của các tính chất cơ bản chung của các đối tượng, như sự thẳng của chân, dạng tròn của đầu, tính đối xứng của cơ thể người. Tất cả các dữ kiện này — các yếu tố kiến thức nói chung. Từ đó cũng xuất hiện một học thuyết nổi tiếng, mà theo đó, «trẻ nhỏ vẽ những thứ chúng biết, chứ không phải những thứ chúng thấy».

* Đọc bài trước ở đây.


Hoà trộn nhận thức nhạy cảm bằng kiến thức trí tuệ, học thuyết này đi theo một tư duy mà Hermann Helmholtz đã công bố vào những năm 60-x của thế kỷ XIX. Helmholtz đã cố gắng giải thích hiện tượng «hằng số» trong nhận thức. Ông cho rằng, chúng ta nhận thức sự vật tương ứng với kích thước, hình dạng và màu sắc của chúng trên nền tảng các hành vi phán xét vô thức của chúng ta. Theo quan điểm này, một cá nhân sẽ có «hình dung đúng đắn» về các tính chất thực sự của đối tượng trên cơ sở trải nghiệm của mình, bởi vì các tính chất thực sự là những thứ thu hút người đó trong thực tiễn. Những tính chất thực tiễn này thống trị các số liệu nhận thức thị giác và được xáo trộn vô thức bởi con người, bởi vì người đó biết, cái gì mới là chân lý. Theo phong cách trí tuệ tương tự, hàng trăm nhà nghiên cứu đã mô tả các bức vẽ của trẻ nhỏ như những hình ảnh của các khái niệm trừu tượng.

Học thuyết này khá là kỳ quặc. Tất cả đều biết rằng, tính cách cơ bản của nhận thức con người trong giai đoạn đầu phát triển — đó là sự phụ thuộc hoàn toàn của họ vào trải nghiệm nhạy cảm. Đối với một bộ não chưa phát triển, các sự vật sẽ là những thứ giống chúng theo vẻ ngoài, những thứ vang lên, chuyển động hay có hương vị giống như chúng. Tất nhiên, trẻ nhỏ cũng nghĩ như vậy và giải quyết các vấn đề cũng như vậy. Chúng cũng hiểu nôm na như vậy, bởi vì sự hứng thú sinh học của chúng, cũng như sự hứng thú của mọi thực thể sống, là một vấn đề thường gặp, chứ không phải tổng quát. Nhưng tư duy này, cách giải quyết vấn đề này và phép tổng quát hoá này xảy ra trong khuôn khổ môi trường nhận thức, chứ không phải trong cấp độ trừu tượng trí tuệ. Chẳng hạn, đứa trẻ học đứng thăng bằng mà không có bất kỳ một công thức quy tắc trừu tượng nào cả. Trẻ nhỏ học cách phân biệt đàn ông với phụ nữ mà không đánh giá các nét đặc biệt của họ dựa trên các quy tắc quy nạp. Các khái niệm trí tuệ trừu tượng liên quan tới một thực tại cụ thể là khá hiếm gặp trong văn hoá phương tây thậm chí ở người lớn. Chúng còn là hiếm gặp hơn ở trẻ nhỏ. Một ví dụ về điều đó có thể là khái niệm «số 5» trong câu nói: «Một bàn tay có 5 ngón tay». Hình ảnh thị giác của bàn tay thường chứa đựng một hình dung về sự xắp xếp hướng tâm của các ngón tay mà không cần biết cụ thể về con số ám chỉ tới chúng. Tính đúng đắn của con số này trong hình ảnh bàn tay được xác định bằng cách đếm lần lượt. Suy ra, trong trường hợp này, yếu tố thị giác được coi là chủ đạo hoặc thậm chí là hình ảnh tiên quyết khi có sự trợ giúp của trí tuệ, thứ mà chúng ta dựa vào nhằm mục đích đạt được hình ảnh chuẩn. Một ví dụ khác: hình ảnh của chú John trong trí nhớ của tôi không chứa thông tin về việc đường ngôi trên đầu chú nằm ở bên nào, nhưng theo tôi nhớ lõm bõm qua câu chuyện thì chú John để ngôi bên phải», và, khi vẽ chân dung chú theo trí nhớ, tôi nhất định phải sử dụng kiến thức khái niệm, thứ mà kiến thức thị giác không cung cấp cho tôi.

Chúng ta đã buộc phải nhắc tới những ví dụ đã nói ở trên, để hình dung chúng không đặc trưng đến mức nào. Còn một khía cạnh quan trọng nữa, chúng chỉ ra các yếu tố không khác biệt về mặt thị giác, chẳng hạn các số lượng hơn 3 hay sự khác nhau giữa phải và trái. Trong phần lớn các trường hợp thực tiễn, con người, trẻ nhỏ hay bất kỳ loài muông thú nào cũng đều dựa vào sự nhận biết thị giác. Bố mẹ cao hơn con nhỏ, khuôn mặt có hai mắt cao hơn miệng, cơ thể con người có vẻ cân đối — tất cả những dữ kiện này đều được biết từ trải nghiệm quan sát, dù có thể miêu tả và mô tả bằng lời. Suy ra, không tồn tại bất kỳ một chứng minh nào để cho rằng, trẻ nhỏ sở hữu những khái niệm trí tuệ phát triển, cần thiết để hiểu biết trừu tượng về đối xứng, tỷ lệ hay sự vuông vắn. Theo học thuyết trí tuệ chủ nghĩa, một đứa trẻ, khi vẽ hình ảnh đầu người, sẽ dựa vào sự hiểu biết của chính mình về các từ «đầu có dạng tròn» và sẽ vẽ «vòng tròn» (roundness) này, chứ không vẽ cái đầu. Nhưng thậm chí kể cả khi một đứa trẻ có hình dung trí tuệ về hình tròn nói chung, học thuyết này vẫn chưa trả lời được cho câu hỏi: «Nó tìm ra hình dạng tròn ở đâu, mà dựa vào đó để thể hiện và truyền tải ý nghĩa của khái niệm chung về đường tròn một cách chu đáo?»

Học thuyết này liên quan tới không những các bức vẽ của trẻ nhỏ, mà còn tới bất kỳ dạng nghệ thuật chính thống cao cấp nào có yếu tố «hình học», đặc biệt là nghệ thuật của con người nguyên thuỷ. Và bởi vì nếu khảng định rằng, nghệ thuật nào cũng xuất hiện từ các khái niệm bất thị giác, cũng là sai lầm trầm trọng, nên các đại diện của học thuyết này đã đi đến một kết luận, cho rằng đang tồn tại hai quá trình sáng tạo mỹ thuật, về nguyên tắc là khác biệt nhau. Trẻ nhỏ, các hoạ sỹ của thời kỳ đồ đá mới, thổ dân da đỏ châu Mỹ và cư dân các bộ lạc châu Phi đã vẽ dựa trên các trừu tượng trí tuệ, trong khi quần thể của các hang động thời kỳ đồ đá cổ đại, dân Pompeii (trong những tác phẩm bích hoạ của mình) và người châu Âu thời kỳ Phục Hưng và sau đó đã thể hiện những thứ họ nhìn thấy được bằng mắt. Di tích nhị nguyên vô lý này là một trong những yếu điểm của học thuyết đang được bàn tới, bởi vì nó đã gạt sang một bên một thực tế đáng kể, đó là, hình dạng rõ nét của phần lớn các tác phẩm của người tiền sử lại là điều tối cần thiết trong hoạt động nghệ thuật của họ và cũng mang một tính cách, giống hệt như trong bất kỳ một hình ảnh «hiện thực chủ nghĩa» nào xứng đáng được gọi là nghệ thuật. Một hình thù, được thể hiện trong tranh của trẻ nhỏ, là không bị «sơ đồ» hơn so với bất kỳ hình thù nào của Rubens, — có thể lắm chứ, mà đơn giản là, nó chỉ được phân biệt trong một cấp độ yếu hơn.

Mặt khác, học thuyết này bỏ qua một thực trạng, đó là, quá trình nhận thức thị giác thậm chí có khả năng phong cách hoá một tác phẩm nghệ thuật. Khi môt trong số cư dân trên đảo của Thái Bình Dương vẽ không gian biển phủ đầy sóng vỗ giống như những hình chữ nhật lốm đốm những đường song song nghiêng hướng, bản chất kết cấu thị giác của mô hình được truyền tải sang một phong cách rút gọn, nhưng hoàn toàn không phải là «biểu tượng». Và như tôi đã nói, những bản nháp hoạ quá đỗi giống thật và các phác hoạ bàn tay, khuôn mặt và các cánh chim trời qua sự thể hiện của Albrecht Dürer là các phẩm nghệ thuật chỉ là bởi vì, vô vàn nét chấm phá và hình dạng tạo ra các mô hình có tổ chức tốt, và thậm chí, đôi khi phức tạp, có chức năng tích hợp vật thể của nhận thức.

Albrecht Dürer, chân dung tự hoạ, 1500. Sơn dầu trên đá vôi phiến, 67.1cm x 48.9cm. Alte Pinakothek, Maxvorstadt, Đức. Nguồn: wiki

Bây giờ thì đã rõ, công thức «trẻ nhỏ vẽ những thứ chúng biết, chứ không phải những thứ chúng thấy» là không có cơ sở, thậm chí nếu như từ «kiến thức» có một ý nghĩa bổ sung nào đó khác với cái mà những người ủng hộ học thuyết này đã và đang ngầm hiểu, có nghĩa, nếu nó chỉ ra được kiến thức thị giác, chứa không phải kiến thức trí tuệ. Thậm chí kể cả trong trường hợp đó, học thuyết này cũng dẫn chúng ta đến một sự nhầm lẫn, bởi vì sự tồn tại của phép nhị nguyên giữa nhận thức thị giác và kiến thức vẫn còn nằm trong giả thuyết. Phép nhị nguyên đó là tót vời đối với quá trình nhận thức, cũng như đối với quá trình nghệ thuật. Trong chính bản chất số liệu của các quá trình này đã bao gồm một điều, đó là, mỗi một hình vi nhận thức cụ thể đều được ngầm hiểu là việc nắm bắt những nét tính cách chung, có nghĩa, một thành tựu toàn năng. Và ngược lại, mọi kiến thức thị giác, thậm chí quá xa vời với đối tượng nhận thức của nó, đều đòi hỏi một hình dung cụ thể về các điều đặc biệt của kết cấu nào đó. Sự đơn nhất không thể chia tách của nhận thức thị giác và kiến thức thị giác là nền tảng của các quá trình mà tôi đang xem xét. Suy ra, bất kỳ học thuyết nào đang có mưu đồ giải thích phong cách «hình học» của hình ảnh khi cho rằng, những phong cách này xuất phát từ các quá trình mỹ thuật trong nguyên tắc khác biệt với các quá trình của cái được gọi là nghệ thuật theo chủ nghĩa hiện thực — hoá ra lại là một diễn giải dữ kiện sai lầm trầm trọng.

(Còn tiếp).

RUDOLF ARNHEIM, "Nghệ thuật và nhận thức thị giác", 1974. Lươc dịch và biên tập: MiukaFoto.

24 Oct 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Phát triển
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!