Hoạ sỹ nói thật, còn nhiếp ảnh gia nói dối, bởi vì trong thực tế, thời gian chưa bao giờ dừng lại.
François-Auguste-René Rodin 
(1840 - 1917)

CÁC NGUYÊN TỐ CỦA GAM MÀU

Chúng ta đang biết điều gì về cú pháp màu sắc, có nghĩa về các tính chất nhận thức cho phép các màu sắc đa dạng tương tác với nhau? Trước hết, cái gì được gọi là các đơn vị cơ bản của bố cục màu sắc và số lượng của chúng là bao nhiêu? Gam màu đã thân thuộc với chúng ta từ phân tích quang phổ ánh sáng mặt trời. Độ sáng và độ no của màu sắc cũng tạo thành các gam thay đổi uyển chuyển từ mức thấp nhất đến mức cao nhất của những chất lượng đó. Số lượng cực đại của các sắc xám nằm trong thang độ này giữa các màu trắng và đen mà một người bình thường có thể phân biệt, theo một số nghiên cứu đã được đúc kết, — đạt tới 200. Cũng đáng để đánh dấu rằng, con số các sắc màu khác nhau trong dải màu thuần tuý giữa hai màu cận biên — tím và đỏ tía — ít hơn rõ rệt, và bằng loanh quanh 160.

«Cây cầu ở Narni». Jean-Baptiste-Camille Corot, 1826. Bảo tàng Louvre, Paris.

Trong âm nhạc, số lượng các thanh âm được sử dụng ít hơn đáng kể, so với số lượng các cao độ mà tai người có thể nghe thấy. Từ đó xuất hiện một khảng định rất thân thuộc, cho rằng các phương tiện thể hiện của âm nhạc được giới hạn bằng hàng loạt các nguyên tố chuẩn hoá, trong khi đó hoạ sỹ lại sử dụng số lượng các sắc màu không có giới hạn. Có nhiều khuyến cáo cá nhân về việc, nên sử dụng bảng màu nào, cần tránh những màu nào, nhưng chỉ được sử dụng trong một số trường mỹ thuật hoặc đã là mốt lỗi thời. Đây nhé, chẳng hạn, ông chủ một cửa hàng nhỏ, — nơi mà các hoạ sỹ theo trường phái bảo thủ có thể mua sơn màu cho các tác phẩm tương lai của mình, — đã bối rối khi có ai đó đề nghị bán cho họ tuýp sơn màu đen, trong khi chia sẻ ý kiến của các khách hàng đáng yêu, cho rằng, trong một bức tranh đẹp cần có chỗ cho «nước thuốc lá ép». Tuy nhiên, cũng ở mức độ như thế, điều đó có liên quan tới một dữ kiện, cho rằng bố cục màu sắc, cũng như bất kỳ một mô hình nghệ thuật nào, sẽ có một hình thức dễ hiểu chỉ khi, nó được dựa trên một số lượng giới hạn của các kết hợp nhận thức màu sắc. Giới hạn này đặc biệt được thấy rõ trong các bức tranh có bố cục được xây dựng trên một bề mặt màu sắc đồng đều, chẳng hạn, các tiểu hoạ Ba-Tư hoặc một số tác phẩm của Matisse. Nhưng thậm chí các bức tranh của Velázquez hay Cézanne, đặc trưng với một số lượng lớn các sắc màu, vẫn dựa vào số lượng kết hợp màu tương đối cô đọng. Cách pha màu tao nhã trên vải vẽ của họ diễn xuất như các ngữ điệu mỹ thuật hay các biến tấu của gam màu chủ đạo, hoặc chúng tạo ra các gam khác nhau chứa đựng những nguyên tố chung, nhưng vẫn là khác nhau. Bởi vậy một tấm khăn trải bàn, — khi chuyển từ tông màu này sang tông màu khác, sẽ tạo ra hàng chục sắc màu khác nhau, trong lúc đó không làm gián đoạn quá trình được nhận thức vẫn là màu trắng. Ba màu — xanh lá cây, vàng và tím — có thể pha trộn với tỷ lệ bất kỳ, nhưng vẫn được nhận thức cùng nhau tại mọi điểm của bức tranh như màu chìa khoá cơ bản.

Cézanne. Quý bà Ceanne (Hortense Fiquet, 1850–1922) trong chiếc đầm đỏ (1888–90). Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan, New York.

Có những kết hợp màu sắc căn bản, mang tính quy luật tâm lý về tác động của màu sắc, và, suy ra, cũng như thuận âm của quãng tám trong âm nhạc, đóng một vai trò nhất định khi nhận thức và sử dụng màu. Tranh cãi, gọi cái gì là các màu cơ bản, cấp một, nguyên tắc, nguyên thủy hay nguyên tố, — đã gây ra một nhầm lẫn nào đó trong học thuyết về màu sắc. Câu hỏi, màu nào có thể đề cử làm màu cơ bản để khi hoà trộn nhận được tất cả các màu còn lại, đã được thay thế bằng một câu hỏi hoàn toàn khác — màu nào trong số các màu sắc được nhận thức là đơn giảm và thậm chí không thể chia tách? Vấn đề đầu tiên đã xuất hiện trong học thuyết nhận thức màu sắc, khi JungHelmholtz đã cố gắng chứng minh, rằng độ nhạy cảm của mắt trước ba màu cơ bản sẽ giải thích cho nhận thức tất cả các màu còn lại. Các hoạ sỹ đã từng phải lay hoay với các quy tắc trộn sắc tố, trong khi kỹ thuật in ấn và ảnh màu đòi hỏi phải giới hạn số lượng các màu sắc có giá trị cấp độ một. Tuy nhiên các vấn đề này không được phép liên hệ với khi, mắt sẽ nhận thức được màu sắc của bất cứ xuất phát điểm nào. Trong quang phổ ánh sáng, sóng có độ dài xác định có thể tạo ra một sắc màu, được nhận thức như một hỗn hợp, chẳng hạn như xanh nước biển ám đỏ, trong khi màu đỏ thuần tuý có thể nhận được bằng cách trộn màu vàng với màu tía. Một thực tế, màu trắng, xám hay đen có thể có được bằng cách hoà trộn hai, hoặc ba, hoặc tất cả các màu, — không bao giờ được ánh xạ tới nhận thức của chính màu này, và một câu hỏi tâm lý, màu xanh lá cây là màu cơ bản hay màu pha trộn, — không có điểm chung nào với quá trình xuất hiện của màu đó. Trong tài liệu tiếp theo, tôi sẽ chuyên tâm đề cập đến vấn đề nhận thức màu sắc.

Cézanne. «Chiếc đồng hồ cẩm thạch đen». 1869-1871.

Khi chúng ta nói, đen, trắng, vàng, lam và đỏ là các màu nền tảng — thì ý nghĩa của điều đó là, về mặt nhận thức chúng không thể phân chia tiếp được nữa, không kích thích sự bất nhất, mặc dù trong trường hợp này sẽ xuất hiện câu hỏi, có phải tất cả các màu này đều có thể được tạo ra trong dạng thuần tuý hay không. Goethe, chẳng hạn, đã cho rằng, vàng và lam là các màu duy nhị, có khả năng tiến tới tính thuần tuý hoàn thiện nhất, còn màu đỏ thì luôn luôn chứa tạp chất lẫn màu vàng hoặc lam. Không có bất kỳ «chứng minh» nào cho khảng định đó, nhưng buộc phải tin theo ông. Với màu xanh lá cây thì lại hoàn toàn khác. Một số người nghiêng về ý kiến cho rằng xanh lá cây là hỗn hợp từ vài màu, những người khác lại nhìn nhận nó như một màu đơn giản không thể chia tách. Chúng ta chỉ còn biết cố gắng xác định, trong điều kiện nào thì xanh lá cây sẽ sở hữu các tính chất vốn có của các màu đơn giản. Nếu, ví dụ, xanh lá cây nằm giữa vàng và lam, thì, rất có thể, nó sẽ hoạt động hơi khác so với khi, màu đỏ cũng nằm trong vùng bao quanh đó. Nếu như màu đỏ cũng sẽ chứa một cái gì đó đặc trưng cho vùng lân cận của nó, thì trong một cấp độ không đáng kể, xanh lá cây cũng sẽ tỏ ra vẻ vừa ám vàng, vừa ám lam, cũng y hệt như khi trong màu cam luôn luôn xuất hiện các nguyên tố đỏ và vàng. Từ một góc nhìn khác, hoàn toàn thấy rõ, một gam bất tận của các sắc màu, chạy từ lam đến vàng, được nhìn thấy là «không tuyến tính» và có một điểm ngoặt hướng về xanh lá cây thuần tuý, trong khi, chẳng hạn, màu đỏ hơi dịch chuyển về hướng thay đổi liên tục của tỷ lệ pha trộn cam và vàng. Có lẽ, màu xanh lá cây trong một số trường hợp (chứ không phải luôn luôn) là màu căn bản.

Đỏ, vàng, lam (blue), xanh lá cây — lấy theo mẫu chuẩn của HTML.

Khi người ta nhờ vả những «chuột bạch» chỉ ra vị trí trên dải quang phổ mặt trời có màu sắc thuần tuý, xác định của họ không tương ứng chính xác với bước sóng cụ thể. Màu vàng thường xuyên xê dịch về hai bên bước sóng 575 millimicron (một phần triệu của một millimetre), còn màu lam — 475 millimicron. Đối với màu xanh lá cây, không đạt được sự đồng thuận chung, bởi vậy có thể nói, bước sóng của nó nằm ở đâu đó giữa 512 và 530 millimicron. Trong các thí nghiệm với màu đỏ, những người chơi khác nhau đã chỉ ra các sóng khác nhau dao động trong dải giữa 642 và 760 millimicron. Ollesh cho rằng, «một số lượng khổng lồ» của màu xanh da trời rõ rệt có thể được thêm vào màu đỏ rực rỡ mà hỗn hợp màu nhận được vẫn có sắc đỏ thuần tuý đối với một số người chơi. Tuy vậy đối với các mục đích của hoạ sỹ, các sắc tố của ánh sáng tạo ra các màu được nhìn thấy tương đối thuần tuý không chỉ trong ý nghĩa tuyệt đối của từ này, mà còn trong sự so sánh với hỗn hợp.

Camille Corot. «Campagne de Rome». 1827. Bảo tàng Louvre, Paris.

Tính cách tổng hợp của những màu sắc căn bản này có gì đặc biệt? Về bản chất, chúng không liên quan tới nhau, bởi vì một sự tương tác bất kỳ luôn luôn đòi hỏi một giá trị đo lường chung. Các sắc màu căn bản chính là các màu thuần tuý. Chúng khác nhau theo các chất lượng biểu cảm của mình và có thể được đem ra so sánh theo độ sáng và các tính chất liền kề (chromatic). Tuy nhiên những màu này không tương ứng với bất kỳ một gam màu chung nào. Chúng truyền tải những tính chất nền tảng loại trừ lẫn nhau. Chúng có thể khác biệt nhau, nhưng sự tương tác của chúng không tạo nên bất kỳ cả sự hấp dẫn, cả sự ghê tởm nào, bởi vậy, trong kết quả, chúng ta có một cảm giác căng cứng quá đỗi không lớn. Giữa hai màu bất kỳ từ những màu này, chẳng hạn giữa đỏ và vàng, có thể thiết lập một gam riêng biệt, và một hỗn hợp nằm giữa gam này có thể được ghi nhận như một tỷ lượng nhất định của đỏ và vàng, còn hai màu thuần tuý đó, phân bố theo hai điểm ngoài cùng của gam, vẫn không liên quan gì tới nhau. Suy ra, trong bố cục của tác phẩm, các sắc màu đơn giản này không bao giờ có thể là các bước chuyển. Chúng vẫn độc lập hoặc tiến về phía trước hay lùi về phía sau trong một dãy tuần tự của các kết hợp màu, hoặc là ký hiệu cho một điểm cực đại, nơi tuần tự đó chuyển sang hướng đối diện. Chẳng hạn như, ví dụ, các đốm đỏ trong tranh phong cảnh của Corot tương phản đột ngột và đồng thời tương tác cân bằng với các màu xung quanh, nhưng không liên lạc với chúng ở bất cứ đâu. Cézanne thường thể hiện những chỗ lồi nhất, như má hay trái táo, bằng các đốm đỏ thuần tuý hoặc đặt màu xanh da trời thuần tuý vào các chiều sâu, chẳng hạn vào các góc mắt. Các màu sơn dầu chưa pha trộn cũng có thể được tìm thấy tại các biên giới của đồ vật, — nơi hình dạng bắt đầu hoặc kết thúc. Những sắc màu này truyền tải cho tác phẩm trạng thái tĩnh, mô tả điểm nhấn nhằm mục đích tạo một hỗn hợp của hệ thống tính toán bền vững. Trong một số những bức tranh màu nước cuối cùng của Cézanne, ông tránh sử dụng sắc màu thuần tuý, — tím, xanh lá cây và vàng ám đỏ thiếu kiềm chế — hoá ra lại nằm trong trạng thái chuyển động liên tục và «chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà». Ngoại lệ chỉ đạt được trong sự cân bằng tuyệt mỹ của toàn bộ tác phẩm.

Ngoại lệ chỉ đạt được trong sự cân bằng tuyệt mỹ của toàn bộ tác phẩm

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Dịch và biên tập: MiukaFoto.

14 Apr 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Màu sắc
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!