Không có tuyệt mỹ bên ngoài sự thống nhất; không có sự thống nhất bên ngoài sự đồng thuận (muốn có sự đồng thuận đôi khi phải áp bức).
Denis Diderot 
(1713 - 1784)

CÁC VÀNH ĐAI HÀI HOÀ

Trong các loại hình nghệ thuật thị giác, chất lượng biểu cảm là yếu tố quan trọng, nhưng không phải là đối tượng duy nhất trong nghiên cứu màu sắc. Song song với điều này, cần nghiên cứu, cái gì có thể được gọi là cú pháp của bố cục màu sắc, là một trong số những quy luật của tổ chức kết cấu. Các hoạ sỹ cảm nhận được các quy luật này một cách tinh tế đáng ngạc nhiên, đã làm theo bản năng ở một mức độ lớn, chứ không chạy theo các luật lệ cứng nhắc. Có thể phán xét về điều đó dựa theo các nhận xét nhỏ giọt của họ được lưu giữ trong các công trình và ghi chép còn sót lại.


Chủ yếu, các thuyết gia về nghệ thuật đi tìm sự hài hoà của màu sắc. Họ đã cố gắng xác định, tỷ lượng nào của các hỗn hợp màu sẽ tạo ra sự kết hợp thuận tiện và dễ dàng chứa đựng tất cả các chất lượng biểu cảm. Những ghi nhận ban đầu này xuất hiện khi người ta thử phân loại tất cả các sự kết hợp màu và đúc kết thành những hệ thống chuẩn mực khách quan. Đầu tiên trong số này là các hệ thống hai chiều, thể hiện sự tuần tự của các màu và một số tương tác giữa các sắc màu, dưới dạng các vòng tròn hoặc các đa giác. Không lâu sau, khi người ta đã biết, màu sắc còn được ước lệ bằng kích thước thứ ba — ngoài độ sáng và sắc màu, bằng cả sự bão hoà màu, — các mô hình ba chiều đã được cho nhập cuộc. Mô hình tự tháp màu sắc của Lambert đã ra đời vào năm 1772. Wundt đã đề xuất một mô hình màu sắc dưới dạng hình chóp nón, sau đó, vào thế kỷ XX đã được Ostwald cải tiến thành mô hình dạng chóp nón kép. Sau hơn nữa, Albert Henry Munsell bắt đầu phổ biến mô hình dưới dạng trái cầu màu sắc. Mặc dù tất cả các mô hình này cũng khác nhau về hình thức và hình dạng, tuy nhiên chúng đều dựa trên cùng một nguyên tắc. Trục đứng, đặt ở khu trung tâm, là thang tỷ lệ độ sáng liền kề: trên đỉnh của trục này là trắng sáng nhất, còn phía dưới — màu đen tối nhất. Đường «xích đạo» — hay đường đa đoạn đa góc tương ứng với nó — ký hiệu gam màu trong mức chiếu sáng và rực rỡ trung bình. Mỗi một vùng nằm ngang miêu tả tất cả các kết hợp liền kề có được khi nằm trong độ rực rỡ đó. Càng gần với cận ngoài của mỗi khu vực, độ bão hoà của màu tương ứng càng cao; càng gần tới trục giữa, hỗn hợp màu xám của chính độ sáng đó càng được thấy rõ hơn.

Người ta cho rằng, các hệ thống màu này nhằm vào hai mục đích: đưa ra khả năng nhận biết khách quan một màu bất kỳ và chỉ ra, màu nào sẽ hoà hợp với màu khác. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét chức năng thứ hai. Ostwald khởi đầu lập luận từ một tiên đề, hai hay nhiều màu khác sẽ hoà hợp với nhau chỉ trong trường hợp, nếu chúng có một tỷ lệ như nhau khi so sánh với những yếu tố đáng kể. Bởi vì không tự tin vào việc độ sáng trong tư duy này có thể được coi là yếu tố đáng kể, nên ông đã đặt nền tảng cho những quy tắc hài hoà của mình trong nhận dạng các sắc màu, hoặc là mức độ bão hoà của chúng. Đề xuất này bao gồm thời điểm tất cả các màu đều hài hoà, nếu chúng bão hoà ở mức độ như nhau. Thậm chí ở đây, Ostwald đã nói, các màu xác định đã có phần nào đó hợp nhau, đặc biệt là các màu nằm đối diện nhau trong vòng tròn màu sắc và đó chính là những bổ sung cho nhau.

Bình minh và hoàng hôn là hai thời điểm hay được ưa thích để chụp ảnh phong cảnh. Khi đó, ba yếu tố của màu sắc (sắc độ, độ sáng và độ no màu) đều biến thiên một cách từ từ. Hồ Tây, HN 4.2018.

Munsell cũng đặt nền tảng cho thuyết hài hoà của mình trên nguyên lý các nguyên tố chung. Vòng tròn biểu thị hình chiếu cắt nằm ngang của trái cầu chứa đựng tất cả các sắc màu có cùng độ sáng và độ bão hoà. Đường thẳng đứng bao gồm các màu chỉ khác nhau về độ sáng. Bán kính nằm ngang gộp nhóm tất cả các sắc độ bão hoà của mỗi màu và độ sáng đang được xem xét.

Bắt đầu nhé, sự hài hoà chỉ đáng được nói tới trong một tư duy, khi tất cả các màu của bố cục cần tương ứng với một thể toàn vẹn thống nhất. Nhưng xác xuất rất thấp, để các màu mà các hoạ sỹ sử dụng cho các bức tranh của mình, có thể trong đa số các trường hợp tuân thủ theo một quy tắc đơn giản nào đó tương tự như cái mà hệ thống màu sắc hài hoà đem lại cho chúng ta.

Trước hết các tương tác màu sắc thay đổi nghiệt ngã phụ thuộc vào các yếu tố mỹ thuật khác. Cả Ostwald và Munsell đều thừa nhận ảnh hưởng của kích thước và tin rằng, các bề mặt lớn sẽ giảm yếu và triệt hạ các sắc màu, các màu sắc bão hoà mạnh cần được sử dụng chỉ cho các vệt màu không lớn. Nhưng, như đã thấy, phân tâm vào thêm một yếu tố sẽ làm phức tạp hoá các quy tắc hài hoà đến nỗi chúng sẽ trở thành vô tác dụng. Còn ảnh hưởng của kích thước — đó là một trong không nhiều các yếu tố không thể bị kiểm soát bằng các phương tiện đo lường.

Cần ám chỉ thêm về một trong các yếu tố này. Hình thức bề ngoài và biểu cảm của màu sắc thay đổi phụ thuộc vào nội dung và chủ đề của tác phẩm nghệ thuật. Màu đỏ, khi được dùng để thể hiện một vũng máu, sẽ không là chính nó, khi được sử dụng để thể hiện khuôn mặt, loài ngựa, bầu trời hay cây cối, bởi vì nó được nhận thức trong sự so sánh với màu chuẩn của đối tượng đang được nhận thức và được bão hoà bởi các giá trị bổ sung của tình huống mang theo sơn màu của hoạ sỹ. Màu đỏ như màu của máu có thể được thấy là nhợt nhạt và yếu đuối, nhưng nó lại rất mạnh mẽ và tràn đầy năng lượng khi được sử dụng để mô tả sự hồng hào của khuôn mặt.

Ektar — loại phim có xu hướng bão hoà mọi màu sắc. Lviv, 6.2017.

Tuy nhiên đang tồn tại những những biểu hiện có cơ sở hơn cho một nguyên tắc mà dựa vào đó, các quy luật về sự hài hoà trong màu sắc được đặt nền tảng. Nguyên tắc này diễn giải bố cục màu sắc như một thể hoàn chỉnh, trong đó, tất cả đều tương ứng với nhau. Bất kỳ sự phụ thuộc liền kề nào của các nguyên tố hàng xóm trong bố cục màu sắc đều minh chứng hùng hồn cho đúng một sự đồng thuận dễ chịu. Dễ thấy, sự hài hoà đó còn ở dạng nguyên sơ nhất, trong trường hợp tốt nhất rất thuận tiện cho cái được gọi là các sơ đồ được sử dụng cho quần áo và nhà cửa, tuy nhiên, như đã thấy, rất khó hiểu, tại sao màu của váy hay màu phòng ngủ lại cần phải đồng nhất. Thay vào đó, có lẽ sẽ tốt hơn nếu đi theo con đường dẫn tới các nguyên tố tương phản để tập trung sự chú ý của khán giả vào những điểm tách biệt. Rõ ràng, các tác phẩm nghệ thuật dựa trên nguyên tắc đó, sẽ tạo ra một thế giới yên vị tuyệt đối bị tước bỏ mọi chuyển động và diễn tả chỉ một trạng thái tĩnh lặng của cái chết, khi, nói theo ngôn ngữ vật lý, entropy đạt được giá trị cực đại.

Quan tâm tới âm nhạc sẽ làm cho các kết luận của chúng ta có cơ sở và thuyết phục. Nếu như sự hài hoà trong âm nhạc được xem xét chỉ như một tập hợp đẹp đẽ của tất cả các âm thanh vang lên đồng thời, thì cái nhìn tương ứng sẽ gợi nhớ đến bản chất của tính thẩm mỹ. Thay vì giải thích cho người chơi nhạc, bằng những phương tiện gì anh ta có thể diễn đạt được điều gì đó, thì chỉ cần dạy cho anh ta biết, cần phải chơi nhạc như thế nào. Thực tế, khía cạnh này của sự hài hoà trong âm nhạc đã một lần thừa thãi nữa chứng minh, nó không phải là một đại lượng tĩnh, mà phụ thuộc vào khẩu vị của giai đoạn lịch sử. Một số cách thể hiện trong quá khứ đã từng bị cấm đoán, nhưng đến ngày hôm nay lại đang được chào đón nhiệt liệt. Chính điều đó cũng đã xảy ra với những quy chuẩn xác định về sự hài hoà trong màu sắc suốt mười năm cuối đây. Và như vậy, Ostwald, bình luận một quy tắc năm 1919, cho rằng, các màu no cần xuất hiện chỉ trong những số lượng không lớn, đã khảng định, các bề mặt lớn được sơn màu đỏ rực, nhìn rất ngu xuẩn và bất kỳ sự thuyết phục cố hữu nào cho rằng «hoài cổ» là tuyệt vời trong quan điểm mỹ học, không có khả năng lặp lại sự bất nhã thô thiển. Tính đến điều đó vào ngày hôm nay, chúng ta có thể nhớ lại một bức tranh của Matisse — có kích thước 4 mét vuông và hầu như toàn bộ được sơn bằng màu đỏ mạnh và thoả mãn giới thưởng thức tranh, — rút ra kết luận, rằng chuẩn mực đó không phải là một cái gì khác, ngoài sự thể hiện mốt cai trị của một thời kỳ.

JULIA. JOHN LENNON. CHILLOUT:


Nhưng, quay lại với âm nhạc, cần nói rằng, các quy tắc lý thuyết khó có thể có quan hệ với bản chất đó của các vấn đề. Lý thuyết âm nhạc không xoay quanh câu hỏi, các nốt vang lên cùng nhau sẽ gây dễ chịu cho thính giác đến mức nào, mà là vấn đề, bằng cách nào để chọn ra một hình thức hợp lý cho một nội dung mong muốn. Đòi hỏi phải có được một thể thống nhất toàn vẹn — chỉ là một trong những khía cạnh của vấn đề này. Một tác phẩm âm nhạc, được tạo ra bằng cách chắp ghép ngẫu nhiên các nguyên tố thành các kết hợp vô tình, không thể thoả mãn các đòi hỏi thẩm mỹ.

Tuyên bố, rằng tất cả các màu sắc, có mặt trong bố cục của một bức tranh, là một một phần của một tuần tự đơn giản, xuất hiện từ hệ thống màu sắc, — không khác gì nói rằng điều đó giống như khi, tất cả thanh âm của một tác phẩm âm nhạc xác định là tương ứng với nhau, bởi vì chúng được viết trong cùng một khoá nhạc. Thậm chí giả sử nếu như điều đó là đúng, thì kể cả khi đó hầu như không thể nói bất cứ điều gì về cấu trúc tác phẩm. Chúng ta không thể biết được, tác phẩm đó bao gồm những phần nào và bằng cách nào những phần đó có thể liên kết với nhau. Không có gì là rõ ràng về một sự sắp xếp cụ thể của các nguyên tố trong không gian và thời gian. Cũng như không thể nói gì về thông tin, bố cục đòi hỏi cả thời điểm phân tách, cả thời điểm liên kết, bởi vì, khi không có các phần được chia tách, thì liên kết chúng với nhau cũng chẳng để làm gì cả. Cuối cùng, chỉ nhận được một hỗn hợp vô cơ. Rõ ràng, không phải là vô ích khi nhớ ra rằng, các gam (giai thức) trong âm nhạc cần cho nhạc sỹ giống như «bảng màu» đặc trưng của hoạ sỹ, bởi vì, các thanh âm của nó trong một nghịch âm tự do không phải lúc nào cũng tương ứng với nhau, mà tạo ra nghịch âm với các mức độ khác nhau. Lý thuyết truyền thống về sự hài hoà của màu sắc chỉ liên quan đến những quan hệ đã có, nhưng cố gắng tránh sự khác biệt. Suy ra, trong trường hợp hữu hảo nhất, nó vẫn là chưa hoàn thiện.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Dịch và biên tập: MiukaFoto.

11 Apr 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Màu sắc
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!