Nhiếp ảnh gia tự định hướng trong thời gian và không gian, ngầm hiểu đó là kịch bản và chính mình. Anh ta cần mờ dần đi, quên tất cả, trong lúc chỉ nghĩ làm sao để, thông qua một chi tiết giản dị, nhưng có giá trị, mở toang ra thực tại...
Henri Cartier-Bresson 
(1908 - 2004)

NÓNG VÀ LẠNH

Hầu như chưa có bất kỳ nỗ lực nào tốt hơn để phân nhóm sự biểu cảm của các màu sắc khác nhau thành những tiêu chí chung, hơn là «nóng» và «lạnh». Sự khác nhau giữa màu nóng và màu lạnh, dĩ nhiên, chỉ là chung chung nhất. Các họa sỹ thường xuyên sử dụng những khái niệm này. Các sách vở thường trích dẫn lý thuyết về màu sắc. Nhưng những nhận xét ngắn gọn về vấn đề này, dựa trên những ấn tượng chủ quan của chính các tác giả, lại không đưa ra bất cứ tài liệu nào có thể thỏa mãn thuyết tâm lý. Các quan sát thực nghiệm của Ollesch về chủ đề này, như có thể bàn luận theo các trích dẫn ngắn gọn của ông, đã dẫn đến một thực trạng không mấy thuyết phục trong kết quả. Có thể, trong các điều kiện đã có, tôi xin phép trình bày ý tưởng của mình. Nó chưa được kiểm tra thông qua con đường thực nghiệm và có thể, vì thế, có vẻ như không đáng tin cậy, nhưng nhờ vào đó, các nhà nghiên cứu sẽ nhận được ít nhất là mục tiêu để sẽ có thể chỉ đạo mũi tên chỉ trích của họ.

Ảnh 1: «#Doof». Tác giả: Lê Thị Thu Phương.

Các thuật ngữ «nóng» và «lạnh» có quá đỗi không lớn lượng thông tin về các sắc màu thuần túy. Màu đỏ, như đã biết, cần phải là màu nóng, còn màu xanh da trời — lạnh. Màu vàng thuần túy cũng có thể dường như được thấy là lạnh. Nhưng tất cả những mặc định này là quá ít ỏi hơn so với tính chất xác định. Cả hai thuật ngữ, như đã thấy, đạt được giá trị tính cách chỉ khi chúng chỉ ra độ chênh lệch khi chuyển từ một màu sang một sắc màu khác. «Vàng ám xanh da trời» hoặc «đỏ», sẽ được nhìn nhận là lạnh, cũng tương tự như thế có thể nói, «đỏ ám vàng» hoặc «xanh da trời». Ngược lại, «vàng ám đỏ» hoặc «xanh da trời» sẽ gây ra cảm giác nóng. Ý tôi muốn nói là, hiệu ứng được tạo ra từ nhận thức màu sắc không được dựa trên cơ sở của một màu, mà được dựa vào hiện tượng màu đó có độ chênh lệch như thế nào so với hướng chuyển về màu chính. Điều đó thường dẫn đến một kết quả bất ngờ, chẳng hạn «xanh da trời ám đỏ» được nhìn thấy là ấm hơn khi so với «đỏ ám xanh da trời». Sự pha trộn của hai màu cân bằng đồng đều sẽ không gây ra tác động nào xác định. «xanh lá cây», có nghĩa là pha trộn của «vàng + xanh da trời», nằm gần với lạnh, trong khi đó, sự kết hợp cân bằng của «đỏ + xanh da trời biến thành tím» và «đỏ + vàng biến thành cam» lại là trung tính.

Tuy nhiên tính chất thuần tính của hai màu sắc trong một hỗn hợp nào đó, như đã thấy, là rất không ổn định. Rất không khó để có thể đạt được trạng thái, khi một màu từ chúng sẽ chiếm hữu màu còn lại. Điều này đạt được dễ dàng bằng phương tiện tăng cường chủ quan của người nhận thức. Trong những khuôn khổ xác định, trong một màu cam được đưa ra, anh ta có thể ra lệnh cho mình nhìn thấy màu đỏ pha nhẹ với màu vàng, hoặc màu vàng biến sắc bởi màu đỏ. Tôi có thể tự tin phát ngôn rằng, trong phương án đầu tiên màu sắc có vẻ như lạnh, trong trường hợp thứ hai — lại là nóng. Cũng bằng các đó, có thể ra lệnh cho bản thân nhìn thấy màu tím như đỏ ám xanh da trời, khi đó nó có sắc lạnh, và như xanh nước biển ám đỏ, khi đó nó sẽ là sắc nóng. Màu xanh lá cây trong cả hai phương án đều tạo ra cảm giác lạnh. Trong một tỷ lệ thành phần xác định, có một dữ kiện quan trọng hơn trong trong việc thống lĩnh của một màu so với màu kia, đó là ảnh hưởng của môi trường màu sắc xung quanh. Hiện tượng thuần hóa và tương phản thường ảnh hưởng tới sự nổi bật của một màu nhờ có một màu khác. Bằng cách đó có thể đạt được việc giảm thiếu tính bất ổn định của hỗn hợp màu và có thể xác định «nhiệt độ» của nó một cách đáng tin cậy hơn.

Nếu lý thuyết này trong nguyên tắc là chấp nhận được, thì khi đó nó có thể được sử dụng để giải thích sự biểu cảm của màu sắc nói chung. Có lẽ, đó không phải là lợi thế, mà là «sự bất hạnh» của màu sắc thống trị, thứ tạo ra biểu cảm nhất thời. Như đã thấy, những màu sắc cơ bản hoạt động hoàn toàn trung lập, là những khái niệm chìa khoá được hiện nổi bật do tính đặc biệt của mỗi màu và và tính tương tách giữa chúng, chứ không phải do nguyên nhân biểu cảm cá thể của chúng. Và chỉ khi một màu nào đó tạo ra hiệu ứng có tính động của sự căng thẳng dựa vào hướng hút của nó vào một màu khác, nó mới tự phát hiện và mờ toang ra những sự biểu cảm đặc biệt của mình. Những màu đỏ, vàng, xanh da trời thuần tuý nằm trong đánh dấu độ không của các màu sắc, bởi vì tính động của chúng yếu ớt, và suy ra, kém biểu cảm. Ý tưởng của tôi tất cả chỉ là một đề xuất và đúng đắn chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu màu sắc, nơi mà mọi thuyết giáo đang tồn tại một cách manh mún; sự tổng hợp màu sắc thiếu cơ sở, theo tôi, có vẻ như có tính ưu tiên hơn là bỏ hẳn nó đi.

Tình thế sẽ trở nên phức tạp hơn nữa cả khi có một dữ kiện: sự biểu cảm của màu sắc nói chung và «nhiệt độ màu» của nó nói riêng được ước lệ không chỉ thông qua sắc màu, mà còn bằng sự rực rỡ và sự no màu của nó. Suy ra, chất lượng biểu cảm của các màu sắc có thể được so sánh với nhau chỉ khi có hai dữ kiện khác đã được thấu hiểu. Chẳng hạn, trong dải nhiếp phổ của tia nắng mặt trời, tất cả màu sắc đều tràn trề năng lượng — mặc dù cũng không trong một cấp độ đồng đều — no đủ, sự khác nhau của chúng được quyết định bằng độ rực rỡ của chúng. Rực rỡ lớn nhất trong các màu sắc của phân tích quang phổ — đó là màu vàng, rẽ về hai hướng tính từ đó (chạy tử đỏ đến tím) là sự suy giảm độ sáng. Có những số liệu chỉ ra rằng, độ rực rỡ lớn nhất cố gắng làm cho màu sắc hóa lạnh và, ngược lại, độ rực rỡ càng giảm, màu sắc càng có thêm sắc màu ấm áp. Suy ra, để có thể tự tin rằng màu đỏ thuần túy là nóng hơn màu vàng thuần túy, chúng ta buộc phải thường so sánh hai màu này khi chúng có độ sáng rực rỡ như nhau (xem ảnh 1).

Độ no màu, hay gam màu (chromatic scale), chỉ ra tính thuần túy của màu sắc. Chúng ta có thể hiểu rõ hơn bản chất của màu sắc, nếu nhớ ra khái niệm về âm sắc trong âm nhạc. Một thanh âm thuần túy hoàn toàn, thường được tạo ra bằng năng lượng của một sóng âm. Sự đơn giản của âm thanh đó tương ứng với dạng dao động có thể mô tả dưới dạng hình sin chuẩn. Tuy nhiên, trong thực tế các thanh âm được hình thành bằng cách trộn lẫn các sóng có bước sóng khác nhau. Ở kết quả, tổ hợp của các sóng khác bước sóng và khác tần số chính là một âm thanh phức tạp, kéo theo cấu hình phức tạp của đường đồ thị sóng. Tương tự như âm thanh tính nhạc trong âm nhạc, một màu hoàn toàn thuần túy thường được tạo ra bằng chỉ một sóng ánh sáng. Ví dụ về màu sắc hoàn toàn thuần túy đó có thể được tìm thấy chỉ trong số các màu sắc đủ no của dải quang phổ mặt trời. Ngay sau khi các màu sắc với các bước sóng khác nhau bị trộn lẫn, dao động tổng hợp tương ứng sẽ trở nên phức tạp và chúng ta thấy một sắc màu buồn tẻ. Càng nhiều sóng màu cùng bước sóng có trong hỗn hợp, kết quả càng có độ no màu lớn hơn. Độ no màu yếu ớt nhất hay được gặp ở các hỗn hợp sắc màu, chúng biến nhau trở thành một màu xám không sắc. Các màu tạo ra hiệu ứng này, được biết đến như các màu bổ sung. Các cấu phần màu sắc tạo ra hỗn hợp càng gần tiến gần các màu bổ sung, hỗn hợp này càng có sắc xám.

Độ no màu còn thay đổi theo sự rực rỡ của màu sắc. Khi độ rực rỡ lớn nhất, hoặc ngược lại, thấp nhất, các sắc màu khác biệt nhau chẳng khác gì sự khác nhau của đen và trắng. Khi độ rực rỡ ở mức trung bình, một số lượng vừa phải của các khoảng cách màu sắc sẽ đi từ màu no đến màu xám trong cùng một độ rực rỡ. Tuy nhiên, trong trường hợp này sẽ xuất hiện một sự phức tạp mới, bởi vì các sắc tố được sử dụng trong hội họa và trong ngành in, khác nhau trong mức độ bão hòa đạt được của chúng. Ví dụ, đối với quá trình in ấn hiện đại, chỉ có màu đỏ là bão hòa hơn màu vàng hoặc màu xanh da trời. Bởi vậy, khi nói về các giá trị biểu cảm của các màu sắc khác nhau, chúng ta cần để ý tới độ no màu của chúng. Tác động đặc thù của yếu tố này tới «nhiệt độ màu» còn chưa được làm rõ ràng. Có thể là, tạp chất làm tăng tính chất nhiệt độ, được tạo ra bằng cách thay đổi màu sắc, làm cho màu nóng trông thậm chí còn nóng hơn, và màu lạnh — còn lạnh hơn. Trong trường hợp này, một nghiên cứu tâm lý luôn được đòi hỏi.

Rất đáng chú ý, tính chất biểu cảm của màu sắc, tốt nhất nên được mô ngữ bằng các ngôn từ, như «nóng», «lạnh», nhìn chung chỉ ra cảm giác về nhiệt độ. Rõ ràng, phải có sự giống nhau nổi bật giữa các số liệu cảm xúc của hai lĩnh vực này. Ngôn ngữ nói chuyện của chúng ta chỉ ra hàng loạt các sự tương tự đó, nhưng trên nền móng của các từ mà chúng ta hay sử dụng, không thể giả định, rằng các chất lượng màu sắc sẽ gợi cho chúng ta nhớ tới các cảm giác tương ứng trong lĩnh vực nhiệt độ và bởi vì thế được gọi là «nóng» hoặc «lạnh». Chúng ta khó có thể nghĩ về bồn tắm nóng hay mặt trời mùa hạ chói chang, nếu trước mắt chúng ta là một bông hồng sắc đỏ ám tối. Thay vào đó, màu sắc gây ra phản ứng tương tự như chất kích thích, còn các từ «nóng» và «lạnh» thường được áp dụng để ghi chép các sắc màu khác nhau, đơn giản chỉ vì, chất lượng biểu cảm đang được xem xét của màu sắc được truyền tải hiệu quả hơn trong lĩnh vực nhận thức cảm giác về nhiệt độ. Nhiệt độ của cơ thể là sự lớn lên của sự sống hay cái chết, «nhiệt độ màu» lại không có ý nghĩa đó. Khi sử dụng các từ «nóng» hay «lạnh», chúng ta đang đối phó, không phải với công cuộc chuyển đổi xúc giác da thành cảm giác thị giác và thính giác, mà với chất lượng kết cấu dùng chung cho cả hai cảm xúc.

Nếu muốn phân tích tới cùng chất lượng này và theo dõi sự xuất hiện của nó, chúng ta sẽ tiến tới một học thuyết, có thể trình bày một cách ngắn gọn hoặc đầy đủ hơn. Trong lúc chúng ta còn đang nghiên cứu hiện tượng này chỉ trong các lĩnh vực của nhận thức, chúng ta có thể thấy thú vị với câu hỏi, sự kích thích của ánh sáng, nhiệt độ, và, có thể thêm vào, — của âm thanh, — có gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh của con người hay không, những ảnh hưởng mà không phụ thuộc vào tính chất đặc biệt của chúng, vẫn thực ra là giống nhau hoặc trong một số quan hệ là rất tương đồng. Mặc dù lý thuyết này cũng là đúng, nói đúng hơn, nó lại có vẻ cực kỳ hạn hẹp, bởi vì khi chẳng cần một dao động nào, chúng ta vẫn cứ nói đến cả về «một người lạnh lùng», và về «sự tiếp đón nồng nàn», và về «cuộc tranh luận nóng». Vì trong những ví dụ này, các kích thích không có tính nhận thức, nên có thể giả định, rằng chất lượng mà chúng ta đang thảo luận không bị giới hạn là các tính chất nhận thức cảm xúc hay cảm giác.

«Một người lạnh lùng» — đó là người mà chúng ta cố gắng chịu thua. «Một người ấm áp» — là người buộc chúng ta phải cởi mở. Anh ta lôi cuốn chúng ta, kích thích chúng ta chia sẻ tâm hồn mình. Các phản ứng của chúng ta trước sự lạnh lẽo và ấm nóng vật lý, rõ ràng, lại là giống nhau. Cũng chính theo cách đó, các màu nóng, như đã thấy, thu hút chúng ta, trong khi các màu lạnh lại cản giữ chúng ta ở một khoảng cách nhất định. Nhưng các tính nóng và lạnh không chỉ nói về phản ứng của chủ thể nhận thức. Chúng cũng khắc họa chính bản thân đối tượng. «Một người lạnh lùng» có vẻ như tự kỷ, thận trọng, chừng mực, bí ẩn và tương tự như thế. «Một người ấm áp», ngược lại, lại lan tỏa ra năng lượng sống. Với anh ta, rất dễ thiết lập tình bạn. Những sự so sánh nói trên giúp chúng ta phát hiện ra sự song hành của màu sắc trong tính cách nhận thức thị giác. Tôi đã chỉ ra xu hướng của các sắc màu có dải bước sóng dài, như, chẳng hạn, màu đỏ, được nhìn thấy như gần hơn so với khán giả. Các bề mặt, ví dụ, có màu xanh da trời, nằm xa hơn rất nhiều tính từ chủ thể nhận thức. Ollesh đã nhận ra rằng, ảnh hưởng của màu có nhiều tính động hơn sẽ lan truyền hoặc về hướng khán giả, hoặc về hướng ngược lại. Ông còn phát hiện ra, như đã thấy, một số màu sắc còn gây nên ảo ảnh nở giãn, còn các màu khác — hiệu ứng co cụm. Các ý tưởng tương tự cũng đã được biết đến qua sách của họa sỹ và nhà lý luận nghệ thuật người Nga Wassily Kandinsky.

Hình 2: Theo Goethe, đĩa tròn bên trái gây ra ảo giác rằng nó nhỏ hơn khoảng 20% so với đĩa tròn bên phải, mặc dù kích thước của chúng bằng nhau.

Khi đánh giá những kết quả này, chúng ta cần thường xuyên nhớ rằng, không những sắc màu, mà cả độ rực rỡ của màu cũng đồng tác động lên hiệu ứng đang được nói tới. Theo Johann Wolfgang von Goethe, một đồ vật tối màu sẽ được nhìn thấy nhỏ hơn rất nhiều so với đồ vật rực rỡ, mặc dù chúng có kích thước như nhau (hình 2). Ông khảng định rằng, một cái đĩa đen trên nền trắng sẽ nhìn thấy nhỏ hơn khoảng 20% so với một cái đĩa trắng trên nền đen, và đã nói về một cảm giác quen thuộc của chúng ta, rằng quần áo tối màu sẽ làm cho một người trở nên tao nhã hơn. Như vậy, khi người ta nhận định màu vàng như là màu nở ra và tiến về phía trước, họ cần chỉ ra rằng, cảm giác đó trước hết là liên quan tới độ sáng, hơn là liên quan tới màu sắc.

Ảnh 3: Mọi màu sắc, dù được coi là «nóng» hay «lạnh», khi tăng giảm độ sáng tới mức cận biên, đều biến về đen hoặc trắng. Tác giả ảnh: Thanh Trung.

RUDOLF ARNHEIM. «Nghệ thuật và nhận thức thị giác», 1974. Dịch và biên tập: MiukaFoto.

3 Apr 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!