Từ cổ chí kim chưa từng có tiền lệ về một người có khả năng sáng tạo trước khi anh ta được học về nghệ thuật. Thiếu sự bất ngờ khách quan, một trò chơi chủ quan sẽ biến tướng thành một trò hề nhạt nhẽo, thứ không gây ngạc nhiên và không thể gây ngạc nhiên. Thủ pháp khác với thủ đoạn ở chỗ, cái thứ hai có thể bị vạch trần, còn cái thứ nhất thì không. Nghệ sỹ, ai cũng muốn làm nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật là cái quái gì? Chỉ cần đúng ba từ thôi: «gây ngạc nhiên», nhưng cần thêm vào hai chữ nữa — «vô thức». Nhưng trước khi gây ngạc nhiên trong vô thức, nghệ sỹ phải biết tự ngạc nhiên có ý thức.
MiukaFoto 
(born in 1972)

BÓNG

Bóng có thể có hai dạng — bóng khối hoặc bóng đổ. Bóng khối nằm trực tiếp trên các vật thể, đồng thời chính giúp chúng ta hình dung ra hình dạng của các vật thể, định hướng không gian và khoảng cách từ chúng đến nguồn sáng. Bóng đổ — đó là bóng mà một vật nhận được từ một vật khác, hoặc, một phần của nó nhận từ một phần khác. Ví dụ, ngôi nhà từ một bên phố đổ bóng sang ngôi nhà phía đối diện, hay, bóng núi trùm lên cái cây dưới thung lũng. Suy ra, bóng đổ truyền tới các vật thể một sức mạnh bí ẩn từ sự lan truyền của bóng tối.

Rembrandt — «Nachtwacht»

Nhưng, về mặt nghệ thuật, hình tượng đó trở thành một loại kích ứng — chỉ khi tình huống của nhận thức là có thể hiểu được về mặt thị giác. Có hai thời điểm mà mắt cần hiểu được. Thứ nhất, khi chiếc bóng không thuộc về vật thể nơi nó hiện diện, và thứ hai — ngược lại, khi chiếc bóng thuộc về một vật thể không nhận được chính chiếc bóng đó. Thường thì có thể hiểu được tình huống bằng cách suy luận, nhưng lại khó khăn khi dùng thị giác. Hình 183 (Рис.183) thể hiện các đường nét của hai hình thù trong một bức tranh của Rembrandt «Nachtwacht». Trên áo của viên trung uý chúng ta nhìn thấy bóng bàn tay. Không khó để nhận ra, chiếc bóng này được đổ từ cánh tay đang cử động của viên đại tá, nhưng về mặt thị giác, mối liên kết này không hề dễ thấy. Bóng tay không có liên hệ đáng kể với vật thể, nơi nó đang nằm. Chiếc bóng này có vẻ ma quái, bởi nguồn gốc của nó chỉ hiện thân khi được ánh xạ đến cánh tay của viên đại tá, đang nằm ở một khoảng cách nào đó và không liên quan trực tiếp tới bóng đổ, như chúng ta thấy, khi cánh tay vươn ra phía trước, nó có hình thức hoàn toàn khác. Chỉ khi khán giả nhìn vào bóng tay, hiểu được chức năng của nó trong bức tranh một cách tổng thể, nhận ra được hướng chiếu của ánh sáng, và nếu hình chiếu của bàn tay có dạng ba chiều một cách chủ quan, thì mắt khán giả mới có khả năng phân biệt chính xác quan hệ giữa tay và bóng. Tất nhiên, hình 183 không mô tả trọn vẹn bức tranh của Rembrandt, vì ở đây chỉ là một góc cắt chứa hai nhân vật, cho thấy một chiếc bóng được tạo ra bởi trò chơi kỳ bí của ánh sáng. Tuy nhiên, như đã thấy, có thể tuyên bố, rằng hiệu ứng của ánh sáng mang tính cách đó thúc đẩy khả năng nhận biết thị giác hầu như tới mức vô dụng.


Bóng đổ cần được sử dụng một cách thận trọng. Trong các trường hợp đơn giản nhất, chúng liên kết trực tiếp với vật thể phát bóng. Chẳng hạn, bóng của một người kết nối với chân của anh ta trên mặt đất; còn khi mặt đất bằng phẳng và các tia nắng chiếu tới với góc 45ᵒ, bóng sẽ đưa ra hình ảnh không bị biến dạng của vật nguồn. Tương tự, sự nhân đôi các vật thể bằng bóng đổ gắn liền với chúng và mô phỏng chuyển động của chúng, đồng thời cũng là đặc biệt trong suốt và phi vật chất, luôn luôn gây cho người ta sự chú ý. Nhưng thậm chí cả các điều kiện lý tưởng, nhận thức về bóng chưa chắc đã được nhận biết một cách ngẫu nhiên như một hiệu ứng ánh sáng. Như đã biết, chẳng hạn, một số thổ dân của một bộ lạc vùng tây Phi tránh băng qua khu vực ngoài trời hoặc dọn dẹp vào buổi trưa, bởi họ sợ «mất bóng của mình», có nghĩa nhìn thấy mình không có bóng. Tuy nhiên, họ biết, bóng đổ sẽ bị ngắn lại vào buổi trưa, chưa có nghĩa là họ hiểu được bản chất của hiện tượng vật lý. Khi người ta hỏi họ, tại sao họ không sợ bóng tối đến mức độ như vậy, dù bóng tối cũng làm cho bóng đổ bị tan biến, thì họ trả lời, rằng bóng tối không gây ra nguy hiểm tương tự, bởi «vào ban đêm tất cả bóng đổ được nghỉ ngơi trong bóng Chúa và thu nạp năng lượng mới». Sau một đêm «nạp năng lượng» chúng lại xuất hiện mạnh mẽ và to lớn, có nghĩa ánh sáng ban ngày như nuốt mất bóng, chứ không tạo ra bóng.

Tư duy của con người, kể cả về mặt trí tuệ và mặt nhận thức, luôn đi tìm nguyên nhân của các hiện tượng ở gần nơi diễn biến nhất. Bóng được nhìn nhận như một phần của đối tượng tạo ra nó. Ở đây, một lần nữa chúng ta lại thấy, bóng tối không đóng vai trò thể hiện sự thiếu vắng ánh sáng, mà được coi là tố chất ưu điểm thế mạnh. Chiếc bóng tinh tế của một người thể hiện sức sống hay tâm hồn của anh ta. Dẫm lên bóng của một người — cũng có nghĩa xúc phạm anh ta nghiêm trọng. Có thể giết anh ta, nếu đâm dao vào bóng. Ở các đám ma cần tránh để bóng của người sống in lên nắp quan tài, bởi vì khi đó nó sẽ bị chôn cùng với thi hài. Không nên bỏ qua khuyến cáo đó như một điều mê tín dị đoan, cần nhận thức chúng như chỉ dẫn về nhận thức tự phát của con người. Sự xuất hiện kinh dị của một bóng ma trong điện ảnh, sân khấu hay trong một bức tranh siêu thực vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng tới những người đã từng nghiên cứu quang học.

Để đụng chạm tới các thuộc tính khách quan của bóng đổ, cần đánh dấu rằng, chúng tạo ra xung quanh vật thể một không gian. Hình 184 (рис.184) cho thấy bóng đổ có thể tạo ra không gian với các cấp độ hiệu quả như thế nào. Cần nói một vài lời về sự hội tụ của bóng đổ. Vì mặt trời nằm ở quá xa, nên trong một dải không gian đủ hẹp thì các tia sáng của nó trở thành gần như song song, ánh sáng tạo ra một hình chiếu đẳng phương của bóng, có nghĩa là các đường song song trong đối tượng, cũng song song trong cả vùng bóng. Nhưng bóng đổ bị biến dạng trong phép nhìn phối cảnh, cũng như mọi vật thể được nhận thức bằng thị giác. Bởi vậy nó (bóng đổ) sẽ có vẻ như hội tụ về một hướng tính từ nơi tiếp xúc với vật thể nếu nằm xa hơn vật thể, và, phân ly nếu nằm trước vật thể. Ngoài ra, nguồn sáng gần, chẳng hạn bóng đèn hay đốm lửa, tạo ra một «gia đình» hình piramid của các tia sáng và, suy ra, tạo bóng có đường nét phân ly vật lý. Sự phân kỳ khách quan này sẽ được tăng cường hoặc bù trừ bằng phối cảnh, tùy thuộc vào vị trí của bóng so với người quan sát nó.

Hình 185 cho thấy, sự chiếu sáng mang đến các hiệu ứng từ một hệ thống piramid tới các hệ thống nhận được trong kết quả biến dạng hình thể. Tương tự như việc bề mặt của hình khối bị biến dạng, bởi vì các cạnh ngoài song song vât lý của nó gặp nhau ở một điểm vô định, cũng như hình dạng bóng đổ của nó cũng tuân thủ vào một điểm hội tụ khác, nằm đâu đó ở vùng nguồn sáng. Sự chiếu sáng cũng làm méo độ sáng đồng nhất trong khu vực của hình khối thông qua quá trình lấp bóng các phần trên bề mặt bằng bóng khối bao phủ lên nó. Trong phối cảnh, cũng như trong sự chiếu sáng, kết cấu của hệ thống biến dạng cũng tự nó đủ đơn giản, nên mắt có thể phân biệt được nó tách khỏi các thuộc tính không đổi của đối tượng. Ở kết quả, ta nhận được sự phân chia thị giác nhân đôi. Cả hình dạng, cả độ sáng khu vực của đối tượng, qua quan sát của mắt, sẽ khác với các thay đổi xuất hiện tại đối tượng do có định hướng không gian và sự chiếu sáng. Cần đặc biệt nhấn mạnh một điều, rằng các thay đổi này, không đơn thuần chỉ là khiếm khuyết gây khó chịu có thể khắc phục bằng cơ cấu nhận thức thị giác trong lợi ích của một định hướng hiệu quả hơn, như các nhà tâm lý quy kết. Ngược lại, chúng có giá trị đặc biệt khi xác định hình thức, định hướng không gian và vị trí phân bố của đối tượng. Nếu thiếu những sự biến thiên này chúng ta sẽ rất khó khăn để nhận thức không gian. Dữ liệu thay đổi hình thức cần được nhận thức trong tâm trí của chúng ta trong phép tính toán, không chỉ bởi vì chúng giúp tạo ra hình ảnh bền vững của thực tại, mà còn vì, chúng như những chỉ dẫn công vụ về các thuộc tính không gian. Sự chiếu sáng bổ sung một cách đáng kể nguồn thông tin này. Ánh sáng giúp chúng ta nhìn thấy rằng, bao quanh chúng ta là các vật thể, nhưng không chỉ có thế, — mà còn hình thức của chúng, cách phân bố, độ xa từ chúng ta và từ các vật thể hàng xóm.

185.

Ánh sáng còn rất thành công trong việc giải quyết một trong những bài toán quan trọng nhất của hội hoạ, thậm chí trong cả các trường hợp, khi thứ mà chúng ta thưởng thức được trong tranh, không thể thấy được ở đời thường. Điều quan trọng không phải chúng ta đã quen thuộc với một điều nào đó đến mức nào, mà là, nó liên quan tới các điều kiện kết cấu đã nói ở trên ra sao. Khi gắn các điều kiện này, thậm chí có những bức tranh nghịch lý với kinh nghiệm đời thường của chúng ta, nhưng lại hoàn toàn có tính thuyết phục để tạo ra sự nhận thức thị giác về không gian. Điều đó có thể thấy rõ qua minh hoạ, ví dụ, trên các âm bản phim nhiếp ảnh, nghịch lý với thế giới của các vật thể được chiếu sáng, có một phần bị che lấp bởi ánh sáng màu đen. Chúng xác định hình thể nổi khối một cách khá rõ ràng, ngoại trừ một dạng đặc biệt của bóng đổ phá vỡ không gian thay vì tạo ra không gian.

HN2017. FED2. FED50/3.5.

RUDOLF ARNHEIM
«Nghệ thuật nhận thức thị giác»

27 Feb 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!