Nghệ thuật cần rơi thẳng vào tâm hồn và trái tim, lờ đi quá cảnh vào lĩnh vực trí tuệ.
Ernst Ingmar Bergman 
(1918 - 2007)

CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P1)

Trong tiếng Nga có từ Лад, đọc là Lad, hàm ý ám chỉ sự đồng thuận đồng ý. Và trong ngôn ngữ dân dã, người ta vẫn thường nói ладно (ladno) — có nghĩa là «thôi được», «thôi cũng được», «nhất trí nhé», vân vân. Vậy phải chăng giai âm là một sự ước lệ của sự thuận tai? Và rất có thể, nó liên quan cụ thể đến các nền văn hoá, khi đó chúng ta có các giai âm khác nhau.

(1). ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM

Giai âm — một khái niệm rộng, được áp dụng trong những ý nghĩa khác nhau, mặc dù cũng gần gũi nhau. Trong âm nhạc, trước hết, cần tách biệt giá trị thuật ngữ thẩm mỹ chung ra khỏi bản thân nhạc lý. Trong ý nghĩa thẩm mỹ âm nhạc, giai âm là một sự đồng thuận gây thích tai giữa các thanh âm của hệ thống cao độ (trong ý nghĩa này, thuật ngữ «Giai âm» trùng hợp với khía cạnh thẩm mỹ âm nhạc của khái niệm «Hoà âm» (Harmony)). Trong ý nghĩa nhạc lý, định nghĩa khái niệm về giai âm thường được hiểu dường như là hình chiếu của giá trị thẩm mỹ trên các quan hệ mỹ âm cụ thể, ở đó chúng liên kết với nhau (như những đối phương có quan hệ gần gũi, thậm chí có tính biện chứng) — đó là các khái niệm tổng quát chung về logic âm nhạc như «ổn định - bất ổn định», «chủ - phụ», «vững chãi - lơi lỏng», «trung tâm - bao quang ("ngoại vi")», «yên tĩnh - hút đẩy», «bất động - chuyển động», «cân bằng - cố gắng» và v.v... Theo định nghĩa của Igor Vladimirovich Sposobin, giai âm là­ «hệ thống liên kết âm thanh, được thống nhất bằng trung tâm chủ âm dưới dạng đơn âm hoặc đa âm» (Các bài giảng theo giáo trình hoà âm — trang 24); còn theo Yury Nikolaevich Tyulin thì, giai âm — «hệ thống tương tác giữa các bậc của thang âm, được xác lập bởi sự chủ đạo của một trụ âm cơ bản (chủ âm) và bởi sự phụ thuộc vào nó từ các bậc khác (Giáo trình lý thuyết ngắn gọn về hoà âm — trang 10); và cuối cùng, Tatiana Sergeevna Bershadskaya lại định nghĩa: giai âm — «hệ thống cao độ về sự đồng phụ thuộc của các thanh âm, dựa trên biện pháp logic (субординация) của chúng» (Các bài giảng về hoà âm — trang 48).

Cần phải hiểu ngầm, rằng trong khái niệm về giai âm có cả hệ tính cách chất lượng (sự đồng thuận, tính nhất quán của các âm thanh), chất lượng đó được triển khai bằng các liên hệ cao độ cụ thể, và nó có cả hệ tính cách của chính hệ thống liên hệ cao độ này (thứ đưa ra tính nhất quán đó, giai âm). Tính đến cả hai hướng, cần định nghĩa giai âm như tính hệ thống của các liên hệ cao độ, được thống nhất bởi âm thanh trung tâm, và cũng như hệ âm cụ thể, thể hiện tính hệ thống này. (Cụm từ «tính hệ thống» cũng được hiểu như tính đồng phụ thuộc logic của các đơn âm và đa âm.)

Những định nghĩa này (và những định nghĩa tương tự) thiết lập hình dung về giai âm trong thế áp đảo của nền tảng âm nhạc châu âu các thế kỷ cận đại (và các hiện tượng gần gũi họ hàng, ví dụ, trong lĩnh vực nhạc dân gian), khi vai trò cơ bản thuộc về quy tắc định giọng với thuộc tính trung tâm mạnh mẽ (bởi vậy, các định nghĩa về giai âm đều nhấn mạnh giá trị của âm chủ, những đa âm đầu não). Tuy nhiên vào cuối thế kỷ ХХ — không thể thiếu sự liên hệ với việc nghiên cứu hoà âm của thời đại — và khi đó, cả các hiện tượng giai âm cũng đã được tiếp cận bởi khoa học. Chúng khác biệt sắc bén về những tính chất của mình so với các kết cấu giai âm có áp lực liên tục và mạnh mẽ lan tỏa về phía trung tâm (đơn âm chủ hay đa âm chủ). Đặc biệt quan trọng giữa các hiện tượng đó là các giai âm trong nhạc Nga cổ đại (hát Thánh ca), ở đó không có sức hút âm chủ từ phía gần kể, nhưng sự ổn định luôn có ở mỗi thanh âm ngân ngắt đoạn, và bởi vậy không thể nói về giai âm như về một hệ thống trung tâm trên cơ sở âm chủ, trên cơ sở hút giọng của bất ổn định về ổn định.

Nếu tính đến tất cả sự đa dạng của các hệ thống cao độ (trong số đó có cả các hệ thống hiện đại), quy chung vào một khái niệm toàn vẹn với tính nhất quán, rõ ràng, cần mở rộng khái niệm về giai âm và định nghĩa nó như sau: Giai âm — tính hệ thống của các tương quan cao độ, cũng như chính hệ thống âm thanh cụ thể có logic âm nhạc trong sưj đồng phụ thuộc của các đơn âm và đa âm. Một sự hình thành rộng nghĩa như thế là cần thiết như việc tổng quát hoá tất cả các kết cấu giai âm đa dạng (nó cần phù hợp cho cả hát dân gian, và cả các giai điệu Hy Lạp nguyên thuỷ, và cả giai điệu Nga cổ điển, và cả các bài Thánh ca của Guillaume Dufay, và cả các bản fu-ga của Bach, và cả bản sonata của Sergei Prokofiev, và cả opera Alban Berg), để có thể nắm bắt cả những hiện tượng «ngoại lệ». Thông thường thì khái niệm về giai âm được liên tưởng tới: hệ thống liên kết cao độ, được tổ chức trên cơ sở phân hoá giá trị logic âm nhạc của các đơn âm và đa âm, trước tiên — từ các phần tử của nó tách ra một âm chủ (trung tâm) và các âm phụ (ngẫu nhiên).

Ngoài giá trị tổng quát chính, thuật ngữ «Giai âm» còn được áp dụng để thể hiện các nhóm hệ thống âm điệu cùa các giọng đối ngược (trưởng - thứ, dạng «cổ điển Vienna», như nhạc Mozart, Beethoven) như một dạng giai âm đặc biệt. Nếu tính đến các giai âm monody già nua; sự khác nhau giữa chúng và các giọng trưởng-thứ có thể đặt đồng hướng hoặc tương hướng: «Giai âm» (Dory, Frigy và vân vân) — «Giọng», hoặc thậm chí, nhìn máy móc theo quan điểm thuật ngữ học giai âm, các thuật ngữ «Modus» (giai âm bậc thang) và «Tonale» (giai âm hút giọng) (xem các chương IX và X). Các hiện tượng Tonale và Modus có nhiều điểm tương đồng. Nhưng ở đây chỉ cần tách biệt dấu hiệu khác biệt giữa chúng.

Giai âm bậc thang (Modus): theo nguyên tắc cơ bản, chúng hiếu hình vào các thang âm cụ thể (và có thể thiếu sức hút về chủ âm).

Giai âm Trung Hoa


Giai âm Nhật Bản


Giai âm hút giọng (Tonale): theo nguyên tắc cơ bản, chúng chiếu hình lên sức hút về đơn âm hay đa âm trung tâm (và có thể thiếu tính xác định của thang âm).

Thuật ngữ «Giai âm» còn được áp dụng để biểu thính tính chất trưởng-thứ (có nghĩa, theo bản chất, trong tư duy «xu hướng»); để biểu thính dạng phân bố gam của hệ thống thanh âm (có nghĩa, nó chuẩn hơn từ «thang âm»).

(2). NGUYÊN MẪU

«Giai âm» là từ do MiukaFoto nói ngược lại để thay thế cho từ «Âm giai». Nó khác nhau trong các ngôn ngữ khác. Gốc rễ xla-vơ cổ đại của từ «ЛАД» (từ này có trong tiếng Ukraine, cả trong tiếng Czech và tiếng Ba-Lan) có một tổ hợp ý nghĩa rất gần với từ gốc của Hy Lạp «ἀρμονία» (đã giới thiệu ở chương I). Trong tiếng Latin «Giai âm» được thể hiện bằng các từ «modus», «modulatio».

Từ «modus» có các ý nghĩa sau: biện pháp (ý nghĩa gốc); chừng mực, tuân theo chuẩn mực (tiếng Tây Ban Nha: moderato — chừng mực); kích thước; lối sống, nguồn gốc, phương pháp (như modus vitae, modus viveпdi - lối sống); hát (modos dicere - hát ca); giai âm (chẳng hạn, «phrygius modus», «lydius modus» ).

(Còn nữa: modulameп - hài âm, giai điệu, hài hoà; modulatio - tương tỷ, nhất quán toàn vẹn âm nhạc, nhất quán âm nhạc của một thể toàn vẹn, giai điệu; modulate - đều đặn (có nhịp), thanh vang; modulus - biện pháp, nhịp điệu, giai điẹu; mod-imperator - quản trị, đầu trò.)*
*: Дворецкий И. Х. Từ điển Latin-Nga. М., 1976. С. 642-643.

Nếu như thuật ngữ «Giai âm» (cũng như «hoà âm») nói về tính nhất quán của các âm thanh trong một quy mô chung hơn, thì «modus», «tính bậc thang» — trong một ý nghĩa cơ cấu cụ thể hơn. Tất nhiên, kể cả thuật ngữ «Giai âm» cũng đề xuất không những «sự đồng thuận» của các âm thanh trong một ý nghĩa thẩm mỹ, «lý tưởng», mà còn đưa ra một mô hình triển khai âm thanh cụ thể của chất lượng này.

(3). BẢN CHẤT CỦA GIAI ÂM

Giai âm (cùng với hợp âm) — nhập thể âm thanh quan trọng nhất của sự hài hoà trong ý nghĩa thẩm mỹ chung sâu rộng của nó. Trong thái độ đó, giai âm (cùng với các thái cực của nó — ổn định và bất ổn định) tương tự như đa âm. Sự khác biệt nằm ở chỗ, thuận âm và ngịch âm là các phần tử, là hướng, chất lượng âm nhạc trong âm vang, còn giai âm — đã là sự toàn vẹn, kết cấu, hệ thống, hình mẫu tập hợp của «các cơ thể» âm nhạc sống động — tức giai điệu (như đã được nhận ra trong phần thuật ngữ nguyên mẫu).

Trong số hàng loạt các phương tiện biểu cảm của âm nhạc, có những thứ mang tính tác động khởi đầu mạnh mẽ, nhưng lại là kích ứng tâm lý căn bản — độ to nhỏ của âm thanh, nhịp đập âm nhạc đều đặn, sự tăng tốc, cresceпdo và sforzaпdo, tính sắc xảo của nhịp điệu, cơ cấu âm sắc. Khác với chúng, giai âm là một phương tiện âm nhạc đặc thù (có nghĩa, không có ở các loại hình nghệ thuật khác và cũng chính vì thế, nó là «trái tim» của âm nhạc); hơn nữa, một giai âm được tổ chức ở cấp cao có liên quan tới sự tinh tế nghệ thuật đó, thứ đồng nghĩa với chính khái niệm về âm nhạc trong ngôn ngữ dân dã (người ta nói: «Cái này y như nhạc vậy!», ngầm hiểu không chỉ đơn thuần là «nghệ thuật âm thanh», mà còn mang đến cho nghệ thuật này sự thăng hoa, mài dũa, sạch sẽ, chạm đến cảm xúc, huyết nhịp trái tim; hay như Pushkin đã viết «Âm nhạc thừa nhận một tình yêu»). Là một phần của âm nhạc cho thấy thực tế, giai âm phản ánh đời sống tâm linh rõ rệt nhất của xã hội và giá trị thẩm mỹ của xã hội đó. Từ đó có sự quan tâm lịch sử và xã hội trong câu hỏi được đặt ra về giai âm: làm thế nào mà âm nhạc trong tổng thể lại là sự thâm nhập âm thanh của các khuôn mẫu cuộc sống tâm linh trong cuộc sống xã hội, được thể hiện một cách đặc thù bẳng ngôn ngữ vượt tầm khái niệm của nghệ thuật âm thanh về chân dung của nó, cùng với tất cả giá trị và nhược điểm của nguyên bản, cũng như chính kết cấu giai âm của một tác phẩm âm nhạc (trong tính cụ thể ngữ âm và cảm âm của nó) là cấu thành đặc thù âm nhạc quan trọng nhất của âm nhạc — của sự toàn vẹn như các phương tiện và cùng với điều đó, của dẫn chất của ánh xạ tương tự?

Một tác phẩm âm nhạc bất kỳ, không phụ thuộc vào nội dung cụ thể của mình, trước tiên cần có tính nhạc trong ý nghĩa này, có nghĩa là tương tác nhất quán của các âm thanh. Cũng thế, ý nghĩa thẩm mỹ trong tiêu chí của giai âm (và của hoà âm nói chung) tiến vào hình dung về âm nhạc bằng thành phần có giá trị nhất, như về một điều kỳ diệu (âm nhạc — và cả giai âm — không như một công trình âm thanh, mà như một tổng thể nhất quán mang đến thoả mãn cho thính giả). Giai âm như một tiêu chí thẩm mỹ — cơ sở để phát sinh và củng cố trong nhận thức xã hội về những quan hệ xác định được hệ thống hoá giữa các âm thanh. «Sự hoà quyện của kỷ luật» được thể hiện bằng các âm thanh của giai âm (phần logic của giai âm) cũng tạo ra sự tinh tế nghệ thuật của khía cạnh âm nhạc này, bởi thế liên quan tới những phương tiện chủ yếu nhất của tác động thẩm mỹ chứa trong nó. Như vậy, có thể nói, chính giai âm trong một tác phẩm cụ thể luôn luôn là sự tập trung của tính nhạc trong âm nhạc. Sức mạnh của giai âm bám rễ vào khả năng tạo thẩm mỹ của nó trong việc trật tự hoá chất liệu «thô», chất liệu gián tiếp ngữ âm của cuộc sống, biến chất liệu đó thành hình thức cân đối của «các âm thanh đồng thuận» (con đường logic từ chất liệu thanh âm và ngữ âm, thông qua trật tự hoá logic của các phần tử riêng rẽ, đến sự tinh thể hoá các quan hệ đặc thù thẩm mỹ hệ thống của biện pháp, tính tỷ lệ thuận, tính tương thích, trong ý nghĩa rộng — tính đối xứng).

Bản chất thẩm mỹ của giai âm tạo nên sự ước lệ của hệ thống các vấn đề nhạc lý cơ bản. Hình thức thâm nhập khởi điểm của các quan hệ giai âm vào tính cụ thể âm học của âm nhạc — âm hình giai điệu (trong ngữ văn âm học — công thức thang âm chiều ngang) — luôn luôn là đơn giản nhất, và bởi vậy, cũng là biện chứng gốc rễ nhất, quan trọng nhất của bản chất giai âm. Từ đó mới có tính giá trị trong ý nghĩa nói riêng của thuật ngữ «Giai âm», liên quan đến các dãy âm có tính giai điệu (có nghĩa, liên quan đến các hệ thống thanh âm, chứ không phải hệ thống đồng vang), ở đây, chúng cũng thường được gọi là các giai âm.

Vậy, có bao giờ bạn tự hỏi, giai âm của Việt Nam ra sao? Nếu chỉ nói đơn thuần là «Ngũ cung» thì quá là đơn giản. Dưới đây là một ví dụ về giai âm vọng cổ. Nó, không đơn thuần là các thang bậc, mà còn chứa đựng các âm phụ, chưa từng có trong âm nhạc cổ điển châu âu! Hãy cùng lắng nghe xem đờn ca tài tử sử dụng giai âm (modus, ЛАД) gì?:

Câu một, Vọng Cổ:


MiukaFoto

1 Jan 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!