«Sự phân tách chất liệu ra thành chất ảnh dẫn đến sự thống nhất của mỗi chất ảnh, đến một sự o bế trong quan hệ của tất cả các sự vật hoặc các phần tử của một sự vật bên trong chất ảnh. Trong kết quả của sự thống nhất nội vi này, các quan hệ giữa các sự vật hay trong chính sự vật — giữa các phần tử — được sắp xếp lại. Các sự vật có khả năng biến dạng.»
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)

CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P2).

Nếu bạn nói với một đứa trẻ, bảo nó hát hai âm cao bằng nhau, nó sẽ làm được ngay. Nhưng khi câu chuyện tiến xa hơn, liên quan đến các quãng khác, đầu óc như tờ giấy trắng của trẻ nhỏ cần có thời gian tiếp xúc, lắng nghe, ghi nhớ, luyên tập để có thể phản xạ lại chính xác. Trong âm nhạc còn nhiều bí mật ở các khía cạnh khác nhau mà chúng ta có thể tìm hiểu qua sách của Kholopov. P2 nói về vấn để quãng tám, phát hiện ra quy luật tâm sinh lý cũng như toán lý của nó. Và, chính từ đó, đào sâu vào tính chất của các thuận âm và quy tắc cộng hưởng.


(6). VẤN ĐỀ QUÃNG TÁM

Có một nghịch lý trong số các tính cách tác động của thuận âm và nghịch âm từ các khía cạnh khác nhau. Đó chính là tính bất thường của quãng tám. Nó bắt đầu bộc lộ khi chúng ta so sánh khía cạnh toán học với các khía cạnh còn lại.

Các phân số, dường như, mở ra bản chất của thuận âm và nghịch âm theo cách đơn giản và dễ hiểu. Tuy nhiên, một trong số các tỷ lệ, — 2:1, quãng tám, — có thiên hướng đi lệch khỏi nguyên tắc chung. Bước chuyển từ một đơn vị (âm chủ) đến một số khác bất kỳ đồng nghĩa với việc tạo ra một chất âm khác (được gọi tên bằng nốt nhạc), ngoài trừ số 2 và các luỹ thừa của nó (2, 4, 8, 16, 32, 64...). Tại sao chúng ta chỉ nhận được cùng một tên gọi cho các nốt này? Tại sao sự nhân đôi lại dẫn đến sự trùng lặp trong tính chất? Đó chính là sự bí ẩn của quãng tám. Từ quan điểm tư duy âm nhạc, các giá trị mang tên «số hai» nghịch lý với các con số toán học:

1=2/1; 4/3=8/3=16/3...

Vấn đề quãng tám có một ý nghĩa to lớn đối với hàng loạt các khái niệm khác, trong số đó có: hợp âm và quãng, các giai âm quãng tám, các khái niệm về điều kiện kỹ thuật trong một tác phẩm âm nhạc. Việc kiếm tìm một biện pháp giải quyết vấn đề, tất nhiên, bắt đầu từ khía cạnh gần gũi nhất trong hệ phân nhánh: tính chất vật lý của âm vang. Các quãng tám khác gì so với các quãng còn lại? Bằng cách so sánh các quãng đã đưa ra ở P1 theo hình vẽ chu kì chập tần, một tính chất cực kỳ đặc biệt, có và chỉ có ở quãng tám, được hé lộ. Chúng ta sẽ gọi đặc tính này là vỏ bọc của âm gốc trong song âm. Vỏ bọc ở đây được hiểu, dao động của âm dưới luôn luôn ăn khớp với dao động của âm quãng tám phía trên nó. Từ đó một logic được đề xuất trên quan điểm tâm lý âm nhạc, đó là sự hoà quyện hoàn toàn của hai thanh âm vào làm một (quãng một), và sự bất lệch của âm gốc so với âm ngọn — đó là tính nhất quán trong giá trị tư duy của hai âm có cao độ khác nhau, có nghĩa, chúng tạo nên quan hệ logic của quãng tám 2:1.

Để kiểm chứng, cần tìm trong thế giới này, có các nguyên tử âm nhạc khác với cùng những tính chất đó hay không. Hoá ra, sự tương tự trong âm vang cũng có ở các quãng khác, nhưng không hiểu vì lý do gì, chúng không được đưa vào danh mục các quãng cơ bản.

Đó là:
3:1 — quãng mười hai (дуодецима)
4:1 — quãng tám kép
5:1 — quãng ba trưởng sau hai quãng tám
6:1 — quãng mười hai sau một quãng tám, v.v...

Ví dụ, Mi ở quãng tám thứ hai và Si ở quãng tám thứ ba theo chỉnh âm của đàn piano tạo ra một quãng mười hai:

E2=82.4069Hz, B3=246.942Hz
246.942/82.4069=2.99661800164792

Ta thấy tỷ lệ của chúng đúng bằng 3:1 (sự gần đúng có nguyên nhân sâu xa trong việc chỉnh âm theo luật bình quân 12 bán cung, có nghĩa, mỗi một bán cung cách nhau chính xác bằng căn bậc 12 của 2).


Chúng ta nghe thử tỷ tần 3:1 (quãng mười hai), tương ứng với dây buông số 6 (Mì trầm) và dây số 2 (Si cao):

MiukaFoto: Bây giờ chúng ta thử mày mò xem tỷ tần 5:1 sẽ âm vang như thế nào. Nếu vẫn lấy âm gốc là E2 (dây số sáu — to nhất — của đàn guitar), ta có nốt ngọn: 5 x 82.41 = 412 Hz. Vào wiki tra thử nốt này là nốt gì? Kết quả là nốt G# ở quãng tám thứ tư. Như vậy, tỷ tần 5:1 chính là quãng ba trưởng chồng lên 2 quãng tám, đúng như Kholopov nói:

Lập luận có vẻ đúng, nếu như tất cả những sự đồng vang đó đều đưa ra một sự tương đồng về ý nghĩa, giống như quãng tám (2:1). Thấy ngay, quãng tám kép (4:1), cũng như quãng tám tam cấp (8:1), thuộc về cùng một nhóm, giống như quãng tám, và chúng dường như được tạo nên bởi chính quãng tám. Các quãng còn lại, có lẽ, bác bỏ lập luận này.

Tuy nhiên, có một phát hiện bất ngờ: tồn tại một nhóm hiện tượng, — trực tiếp khảng định khả năng gián tiếp (có nghĩa, trong những điều kiện nhất định) của các chức năng song âm dạng n:1 như những đồng vang với những tỷ lệ đồng nhất.

Ví dụ, một số ống phát âm của đàn organ có khả năng tạo ra những quãng mười hai rõ rệt, được nghe thấy như hoà quyện lại làm một, chỉ chịu thua kém âm chủ (ước lệ — như f và p — f:mạnh, p:nhẹ), ngoài ra, luôn luôn nhân bản nó như vào một quãng duy nhất. Liên quan tới điều này, Yu. N. Tyulin đã đưa vào «Học thuyết hoà âm» của mình một ví dụ tuyệt vời (chúng ta sẽ làm quen với nó trong dạng hơi biến thể, ví dụ 3).

Hoàn toàn rõ ràng và hiển nhiên cho cảm nhận thính giác, trong luận điểm này, các quãng mười hai (дуодецима) tạo ra sự nhân bản đơn chức của giai điệu, có nghĩa, các âm của quãng mười hai sở hữu một sự đồng chất chức năng với những âm gốc được nhân bản. Đặc biệt, điều đó được cảm nhận sắc bén trong các âm của hợp âm bẩy ở ô nhịp thứ năm. Chắc chúng ta sẽ nghĩ, sự chồng âm «đa giọng» sẽ bị phô tai, nhưng điều đó lại không xảy ra.


Các quãng 12 (duodecimus) được chồng lên giai điệu của nguyên bản: J. S. Bach — Prelude and Fugue in A minnor, BWV 543, chúng ta hầu như không cảm thấy chúng bị lạc lõng khỏi bè chính:

Một hiệu ứng cũng chính xác như vậy về chức năng hoà đồng cũng có ở sự nhân quãng giai điệu bằng các tam âm trưởng (có nghĩa, không những 3:1, mà còn 5:1) trong «Bolero» của Ravel; Những «cột cộng hưởng» ma quái, được dựng trên mỗi một thanh âm của giai điệu, có chính xác những ý nghĩa như bản thân các thanh âm nằm trong các cây «cột» này. Và tiếp theo, có vẻ như, trong thành phần của mỗi âm thanh đều có hàng loạt các âm bồi (xem ví dụ 1), khi trộn lẫn cùng với âm chủ, hàm chứa ý nghĩa của chức năng tự hòa quyện, xuyên suốt cho đến tận «sự bung ra» thành một âm thanh thống nhất được tiếp nhận bởi chúng ta. (Trong một số điều kiện nhất định, các tính chất khởi đầu sẽ đạt được cả những âm vang khác, chẳng hạn, các chồng âm thuận nghịch lẫn lộn.)



Các quãng tám (2:1), hay các quãng tám mở rộng, — đều giống nhau ở một điểm là có hiện tượng hòa quyện vào một thể toàn vẹn đơn nhất, còn các quãng phát triển (3:1, 5:1, 7:1) — chỉ trong một số các điều kiện nhất định. Về mặt toán học — đó là quy luật của các số nguyên (2:1, 3:1, 5:1, v.v... khác với các phân số 3:2, 4:3, 5:4, 6:5, 5:3, 5:8, 9:8, 9:5, 15:8, 16:15). Cả trong ý nghĩa này, một số nguyên — có bản chất như một «đơn vị» như quãng một («унисон») .

Tranh của Valentin Serov, vẽ theo cảm hứng từ giao hưởng «Boleró»

Như vậy, vấn đề quãng tám không những mở ra khả năng sử dụng một chất liệu hòa âm khác, mà còn chỉ ra nguyên tố ước lệ trong một khía cạnh tâm lý dễ hiểu hơn. Một mặt, trong ý nghĩa của sự hòa quyện (trong «chức năng quãng tám»), một số các quãng khác có thể được sử dụng trong cả sự kết hợp giữa chúng, mặt khác (và cả trong các trường hợp khác) — ngược lại, các thanh âm quãng tám có thể có các chức năng khác nhau. Đây là trường hợp, chẳng hạn, quan hệ của chúng trong hát độc xướng cổ đại (vai trò lớn thuộc về tính tuyến tính, cảm giác khác biệt âm vực giọng hát). Ví dụ nữa, trong các giai âm vào các thời giáo hoàng Hy Lạp, chức năng giữ vững âm chủ được giao phó cho quãng tám phía dưới, còn âm đồng tên ở quãng tám phía trên không có chức năng giữ khung. Tương tự trong độc xướng Nga cổ đại (xem thêm sau này, các chương 9 và 11), các âm nằm ở các quãng tám khác nhau vang lên theo những cách biểu cảm rất tách biệt, mang theo những xưng danh pha loãng (xem ví dụ 116), và một số âm thậm chí còn tạo ra những quãng tám bất thuần, bị giảm đi.

Như vậy, theo vấn đề về quãng tám (và tương ứng với với các quan hệ logic âm nhạc trong chính hạt nhân của chúng) xuất hiện một giả thuyết dựa trên hai luận án sau đây:

1. Đơn vị (quãng một) được diễn giải như một con số có bản năng đặc biệt, nó không là tập hợp như các con số khác cũng như các tỷ phần được tạo ra bởi chúng. (Thật thú vị, các nhạc sư cổ đại — các môn đệ Pithagorian, Augustine, Boethius — đã đề xuất ra đơn vị bằng một nguyên tố số, mà bằng khởi đầu cùa nó, dường như là «một nguyên tử toán học», một đơn vị đo lường cho các con số khác, được tư duy như các tập hợp — «numerus est unitatum collectio», theo định nghĩa của Boethius.)

2. Con số tập hợp đầu tiên — đó là số hai, có nghĩa tỷ phần 2:1. Như một tỷ lệ đơn giản nhất, không có phần lẻ giữa tử số và mẫu số, quãng tám cũng cho chúng ta (đặc biệt có tính cách trong nhạc nhiều bè) một sự hoà quyện hoàn hảo vào sự toàn vẹn thống nhất, được nhận thức bởi chúng ta như một đơn chức, có nghĩa, như thái độ của sự đồng nhất logic âm nhạc.

(7). HAI PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM

Chiểu theo hai phương pháp tiếp cận cơ bản đến nhìn nhận hiện tượng thuận âm và nghịch âm — từ quan điểm kết cấu của đối tượng nguồn âm (khía cạnh toán lý) và quan điểm nhận thức chủ quan (khía cạnh sinh lý, tâm lý âm nhạc) — lịch sử cũng đã cho hình thành hai phương pháp đánh giá cảm âm.

Phương pháp thứ nhất, xuất phát từ những môn đệ Pithagore cổ đại (như đã thấy, là những người đầu tiên trong lịch sử), được đặt nền tảng trên nhìn nhận về các tỷ lệ số (quan điểm của giáo phái «Canon» — hậu duệ của Pithagore). Tuân theo phương pháp này, thuận âm là các phân số đơn giản, còn nghịch âm — phân số phức tạp. Phương pháp thứ hai, xuất phát từ Aristoxenus (Ἀριστόξενος) và nhạc phái của ông (còn được gọi tên là các «harmonics»), có nền tảng phân tích chủ quan về ấn tượng cảm âm. Theo phương pháp thứ hai, thuận âm là sự kết hợp gây dễ chịu cho thính giác, còn nghịch âm, tương ứng — gây ức chế.

Cả hai phương pháp đều nắm bắt triệt để hai hướng thuận âm, nghịch âm và bổ sung cho nhau. Phương pháp thứ nhất (khách quan) đúng hơn và khiêm nhường hơn, nhưng có nhược điểm — thiếu luận điểm về biên giới giữa thuận âm và nghịch âm (dù bản thân các môn đệ Pithagore xác định ranh giới một cách chính xác — bằng sự liên kết của «bốn con số đầu tiên»: 2:1, 3:2, 4:3 — thuận âm, còn lại là nghịch âm). Phương pháp thứ hai (chủ quan) liên quan trực cảm tới cảm xúc thẩm mỹ của các đồng vang, tuy nhiên lại rộng lượng với tính bất quy tắc ngẫu nhiên chủ quan khi nhận định một đồng vang là chối tai hay êm tai. Vậy, nếu chúng ta cảm thấy «dễ chịu» với những đồng vang sáu âm đồ sộ của Scriabin hay 12 chồng âm dày đặc của đoạn kết trong một tác phẩm hoà nhạc của Webern, thì, theo phương pháp thứ hai, những hợp âm đó, tất nhiên là thuận âm. Còn nếu chúng gây chối tai cho ai đó, họ có quyền quy kết chúng là nghịch âm. (Cảm nhận khác nhau cũng có thể xảy ra với cùng một hợp âm, cùng một thính giả, nhưng vì những nguyên nhân ngẫu nhiên, chẳng hạn, dàn nhạc chơi tốt hay chơi tệ, hay vì bối cảnh, tâm trạng, v.v...).

(8). CÁC HÌNH THỨC TRIỂN KHAI CỦA THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM

Ý nghĩa của thuận âm và nghịch âm như các dữ kiện tiền đề của hoà âm mở ra sự đa dạng của hình thức và cách triển khai của chúng trong kết cấu tác phẩm, lớp mô âm nhạc. Trong số các âm hình này có dạng căn bản (trực diện, bộc lộ trực tiếp) và phát triển (ở đó, mỗi thuận âm hay nghịch âm nằm trong một thể toàn vẹn phức tạp hơn, ẩn hiện, phân nhánh bí mật khỏi các đồng vang khác — cả theo chiều ngang, cả theo chiều thẳng đứng, trong cả âm hình căn bản lẫn phát triển).

Những âm hình căn bản:

1. Quãng chiều ngang — song âm lần lượt (chẳng hạn, e1—g1), ví dụ 4.



2. Quãng chiều dọc — song âm đồng thời (chẳng hạn, g1/e1), ví dụ 5.

Quãng ba thứ E-G, âm hình ngang và dọc:

Trong các quãng dọc và quãng ngang, tính chất thuận âm và nghịch âm không hoàn toàn như nhau. Chẳng hạn, nếu tính chất của quãng ba là mềm mại, yên tĩnh, hòa quyện (cả ngang và dọc), thì quãng hai (cả trưởng, cả thứ) lại đưa ra những hiệu ứng khác nhau. Tính nghịch âm của các nốt quãng hai, tính «thù địch» của chúng khi vang lên đồng thời có vẻ xé tai, khác với sự triển khai uyển chuyển theo tuần tự của chúng, nhờ có hiệu ứng «lần theo dấu vết» của âm sau theo âm trước, nghịch đồng vang với nó (nghe ví dụ về quãng hai thứ ở bài trước).

Các âm hình phát triển:

3. Tập hợp của các quãng ngang (tuần tự giai điệu), ở đó, cùng với các quãng trực tiếp (âm nối âm) xuất hiện những quãng trạm, nằm trong nền móng của chuyển động; vai trò của các quãng thuận âm trạm trú đặc biệt quan trọng (ví dụ 6).


4. Tổ hợp của các quãng dọc (hợp âm, đồng vang), ví dụ 7.


Trong số các tổ hợp đó (cả ngang, cả dọc), đặc biệt quan trọng là các tổ hợp định hình thuận âm của các quãng năm đúng, cũng như các tam âm định hình thuận âm (trưởng và thứ); như những «thuận âm của thuân âm» (TACTA) chúng tạo ra những đồng vang thuận tai bậc nhất trong các phương án có thể có (trong thuật ngữ tiếng Pháp, «accord parfait» — «hợp âm hoàn hảo»), mạnh mẽ hơn các quãng tạo thành nó — quãng năm và hai quãng ba. Trong nhạc nhiều bè (đặc biệt, hệ thống trưởng-thứ các thế kỷ XVII-XIX), vai trò của chúng đặc biệt quan trọng, chính các hợp âm ba cho phép diễn giải điều đó (chứ không phải các quãng thuận âm) như một thể thống nhất toàn vẹn tiền khởi trong tự nhiên, bằng cách đánh giá tất cả các đồng vang khác như các biến thể khác nhau của thuận âm chính (như bổ sung vào TACTA chính các âm phụ, thu hồi một hoặc thậm chí hai thanh âm, v.v...). Các tổ hợp quãng dọc (trong trường hợp đặc biệt: TACTA) có giá trị đồ sộ cho cả phát triển chiều ngang, phát triển giai điệu.

Tương tác của các âm hình:

5. Tất cả các âm hình đã liệt kê, theo thứ tự của mình, nhập cuộc vào tương tác với nhau, tạo ra một hệ thống kết cấu phân nhánh phức tạp nhất về tuân thủ thuận âm và nghịch âm, có thể có trong điều kiện phân chia nhánh rẽ chức năng của các cấp bậc (ví dụ 8).


Chúng ta cùng thưởng thức Sonata Op2 #1 phần 1 của Beethoven (Glenn Gould, piano. CBS/Sony, thu âm tại Toronto, ngày 9 tháng 11, năm 1974):


Sự tương tác giữa các âm hình ngang dọc của các thuận âm và nghịch âm. Trong ví dụ 8 là các cấp bậc phân nhánh thấp nhất (nền móng); các bậc cao hơn (các hợp âm, các âm thanh bất hợp âm) không được thể hiện trong sơ đồ.

MiukaFoto


26 Dec 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
KholopovVd003
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!