Nghệ thuật cần rơi thẳng vào tâm hồn và trái tim, lờ đi quá cảnh vào lĩnh vực trí tuệ.
Ernst Ingmar Bergman 
(1918 - 2007)

CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P1).

Chương hai nói về bản chất của thuận âm và nghịch âm trong các khía cạnh nhận thức khác nhau: toán học, vật lý, sinh lý, tâm lý. Phần 1 bàn cụ thể về các khía cạnh này. Để tăng mức độ hình dung thực tế, dịch giả đưa thêm các ví dụ về âm vang của các quãng thuận âm và nghịch âm khi chơi trên đàn guitar. Tuy nhiên, bạn đọc có thể thực tập trên các nhạc cụ khác nhau như piano hay thậm chí ukulele.

Kharkiv, Ukraine. Apr 17, 2010.

(1). NGUYÊN MẪU

Các từ «thuận tai» và «nghịch tai» là được tạm dịch từ tiếng Latin. Lần lượt, các từ Latin «consonantia» (sự đồng thuận, sự trùng lặp; «thuận âm», hài hòa; thuận tai) và «dissonantia» (không cân đối, bất đồng; «nghịch âm», nghịch giọng; nghịch tai) là dấu vết từ vựng với sự tương ứng chính xác với chúng trong tiếng Hy Lạp của các từ συμφωνία («giao hưởng», có nghĩa «thuận âm», đồng thuận, âm vang cân đối; cũng như âm nhạc, bài hát) và ασυμφωνία («nghịch hưởng», có nghĩa sự bất thuận, sự chia rẽ, vang âm lạc lõng). Tiền tố Latin «con» («com») chỉ dẫn đến sự nhất quán, kết nối, đồng thành viên, và «dis» — ngược lại, chỉ dẫn đến sự chia phần, chia rẽ, tách hội. Và nữa, động từ «sono» có nghĩa là âm vang, tạo ra âm thanh, hát (nói); sonans (và sonantis) có nghĩa (hoàn toàn) âm vang, rì rầm; nguyên âm (như một thuật ngữ của ngữ pháp).

Như đã thấy, ý nghĩa của «consonantia» gần như ruột thịt với «harmonia», dường như chỉ khác về cụ thể hóa trong âm thanh, liên quan mật thiết đến sự âm vang vật chất, âm thanh. («Dissonantia» được tư duy như đối lập cần thiết của tương quan.)

(2). BẢN CHẤT CỦA THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM

Đời sống âm nhạc của hoà âm là sự thực thi âm thanh, bằng cách nhập thể vào các quan hệ cao độ. Quan hệ cao độ căn bản và nguyên thuỷ, có bản chất như «nguyên tử» của sự hài hoà, đó là quãng. Sự giầu có và đa dạng của các quan hệ hoà âm được thể hiện trong hiện hữu và tương tác phức tạp của rất nhiều các quãng phức chất. Chất lượng hoà quyện, «sự đồng thuận», được biểu lộ theo những cách khác nhau trong các quãng đa tính. Độ hoà quyện ở mức độ này hay mức độ khác, sự tương cảm trong đồng vang của hai thanh âm, chính là bản chất của thuận tai và nghịch tai, lần lượt tạo ra thông tin gốc rễ cho các hiện tượng quan trọng bậc nhất về hoà âm, nói riêng, về các hợp âm mà ta hay nói là thuận tai hay nghịch tai. Từ đó phát sinh ra định nghĩa về consonantiadissonantia.

Thuận âm là sự âm vang của các thanh âm hoà quyện với nhau; yên bình, sự đồng vang điềm tĩnh.

Nghịch âm — sự âm vang của các thanh âm, dường như «không thể quấn quyện» với nhau; sự nghịch tai mang tính chất gây căng thẳng và áp lực.

Sự phân chia các âm vang ra thành thuận âm và nghịch âm, các ấn tượng cảm âm về «kết dính» và «không kết dính», «áp lực» và «thư giãn», — tất cả tạo ra những «dường như» trong tiêu chuẩn, — nhưng chỉ có thể nói về một chỉ dẫn tương đối, chứ không phải những định nghĩa tuyệt đối. Chính xác, nó ngăn chia các những âm vang nhiều kết dính ra khỏi những âm vang ít kết dính hơn, chứ không là đường kẻ «thuỷ lưu» giữa cái này và cái kia. Bởi vậy, trong những thời đại khác nhau, biên giới rõ ràng giữa thuận âm và nghịch âm cũng là một khái niệm thay đổi. Thế này, người Hy Lạp cổ đại chỉ coi quãng bốn, quãng năm, quãng tám và các quãng tám mở rộng là thuận âm; tất cả các quãng ba và quãng sáu đã từng bị coi là nghịch âm. Vào thế kỷ thứ XIII đã có sự lung lay của quan niệm này, và từ thế kỷ thứ XIV biên giới đã được sắp đặt lại: các quãng ba và quãng sáu đã chiếm lĩnh vị trí hài hoà của mình. Ở thế kỷ ХХ đang xảy ra biến đổi, và những nghịch âm trước kia (quãng bẩy – септима, quãng hai – секунда và quãng bốn tăng – тритон) đang được sử dụng hoàn toàn thông dụng và thành thạo, trong khi trước kia bị đặc biệt coi là nghịch âm. *

* Trong sách «Dẫn luận về tư duy âm nhạc hiện đại» (1946), A. S. Ogolevets viết: «Tư duy âm nhạc hiện đại đã kết liễu số phận của tính (như là) nghịch tai trong quãng hai trưởng», còn một nhạc sỹ, khi chỉ tiếp nhận sự thuận tai của quãng ba, và bằng cách đó dừng bước tại hàng rào ngăn cách trước quãng hai thứ, «sẽ không quá sai, nếu tự nhận mình là hậu sinh và hay thậm chí là thiểu năng âm nhạc theo quan điểm đòi hỏi của tư duy âm nhạc hiện đại» (trang 256).

Đóng vai như những dẫn chất khởi đầu trong hình thức nội vi đa dạng khác nhau, thái độ của các thuận âm và nghịch âm thâm nhập vào chất liệu cao độ âm nhạc và mở ra một âm phổ chứa các tính chất tự nhiên chất liệu này — từ bước chuyển mềm mại giữa kết dính tuyệt đối (âm chủ - унисон) đến các sự hoà quyện phức tạp hơn và ít kết dính hơn, trong phối cảnh phân li đến vô cùng tận (tương tự như một dãy số tỷ lệ thuận).

Cùng với điều đó, nếu như nói về chính bản chất của hiện tượng âm nhạc, sự chuyển bậc của các quan hệ đồng vang được ánh xạ trong những phương diện cơ bản của sự len lỏi âm nhạc, bắt đầu từ những tỷ lệ số trừu tượng (phi vật chất) và kết thúc ở các tinh tế tâm lý học trong nhận thức thẩm mỹ (tiến sát tới những phân biệt xã hội học, dân tộc học, lịch sử - văn hoá). Từ đó phát sinh hàng loạt các khía cạnh trong vấn đề nhìn nhận về thuận âm và nghịch âm — toán học, vật lý, sinh lý âm nhạc, tâm lý âm nhạc.

(3). KHÍA CẠNH TOÁN LÝ

Tỷ lệ số vẽ ra bức tranh nghiêm túc về phổ âm. Tiêu chí đánh giá thuận âm và nghịch âm chính là độ đơn giản hay phức tạp của các quan hệ: phân số càng đơn giản, âm thanh càng thuận tai, ngược lại, phân số càng khó hình dung, âm thanh vang lên càng nghịch tai. Ranh giới truyền thống và ước lệ của chúng ta giữa đơn giản và phức tạp lách qua «số sáu» (còn là thuận âm) và «số bẩy» (đã thành nghịch âm) (xem ví dụ 1).


Chúng ta có thể nghe thử 12 thanh âm đầu tiên của dãy bồi âm:

Tỷ phần dạng số có thể diễn đạt theo hai cách: 1) qua tỷ lệ độ dài của dây đàn (ngắn hơn — cao hơn) và 2) qua tỷ lệ giữa số lần giao động trong cùng một khoảng thời gian (ngược lại, ít hơn — trầm hơn). Phương pháp thứ nhất được sử dụng trong bảng 1 và 2.

Bảng 1.

CÁC THUẬN ÂM
1 : 1 quãng một (унисон)
2 : 1 quãng tám (октава)
(các quãng đơn tính về cao độ)
3 : 2 quãng năm (квинта)
4 : 3 quãng bốn (кварта)
(Tính chất chung được hỗ trợ bởi «số ba»)
5 : 4 quãng ba trưởng (большая терция)
8 : 5 quãng sáu thứ (малая секста)
5 : 3 quãng sáu trưởng (большая секста)
6 : 5 quãng ba thứ (малая терция)
(Tính chất chung được hỗ trợ bởi «số năm»)
Trích từ dãy âm tự nhiên, ví dụ 1.

Bên trong mỗi một nhóm thuận âm, thấy rõ có một một con số phân biệt chất lượng. Quãng năm và quãng bốn («số ba») nội hợp với nhau, và cùng nhau đối nghịch với hai nhóm khác ([quãng một + quãng tám] và [quãng ba + quãng sáu]). Cũng thế, hai quãng ba hợp nhóm với nhau («số 5»). Quãng một và quãng tám cũng là một nhóm («số một»), mặc dù nó không hoàn toàn tương tự như hai nhóm còn lại.

Trong số các nghịch âm, có một phần không được sử dụng do bị chối tai so với các quãng thuận âm cơ bản của hệ thống giai âm. Mặc dù chúng cũng có tất cả các tính chất nghịch âm số học, chúng ta nên nhìn nhận chúng tách biệt ra ngoài tính có thể sử dụng được (ví dụ 2).


CÁC NGHỊCH ÂM DÙNG ĐƯỢC
9 : 5 quãng bẩy thứ (малая септима)
9 : 8 nguyên cung trưởng (большой целый тон)
10 : 9 nguyên cung thứ (малый целый тон)
16 : 9 quãng bẩy thứ (малая септима) *
15 : 8 quãng bẩy trưởng (большая септима)
16 : 15 quãng hai thứ (малая секунда)
45 : 32 quãng ba cung - quãng bốn tăng (тритон - увеличенная кварта)
64 : 45 quãng ba cung - quãng năm giảm (тритон - уменьшенная квинта) **
* Như được thấy, quãng bẩy thứ có hai phương án tỷ lệ tần, hoặc 9 : 5, hoặc 16 : 9.
** Trong nhận thức của chúng ta về quãng ba cung bình quân có hình chiếu khuôn mẫu của quãng ba cung tự nhiên, điều này giúp đơn giản hoá các phân số phức tạp. Tương tự là vấn đề với quãng bẩy thứ tự nhiên.


CÁC NGHỊCH ÂM KHÔNG DÙNG ĐƯỢC
7 : 4 quãng bẩy thứ tự nhiên (натуральная малая септима) *
8 : 7 nguyên cung tự nhiên (натуральный целый тон)
7 : 5 ba nguyên cung tự nhiên - quãng năm giảm (натуральный тритон - уменьшенная квинта)
10 : 7 ba nguyên cung tự nhiên - quãng bốn tăng (натуральный тритон - увеличенная кварта)
* Để hình dung tốt hơn về đại lượng của quãng này, tốt nhất nên sử dụng cent (cent — 1/100 của một bán cung theo hệ thang âm chia đều bình quân). Quãng bẩy thứ tự nhiên b=968.8 cent, có nghĩa nằm giữa các con số bình quân a=900 cent và b=1000 cent (xem phụ lục số 3).

Ví dụ 2: Các thuận âm. Phần bên phải, các cặp trong ngoặc vuông không được sử dụng.

Các nghịch âm. Phần bên phải là các tỷ lệ chưa được đưa ra.

Khía cạnh vật lý chính là hình chiếu của khía cạnh toán học (số học) về chỉ số dao động của các vật thể âm vang (tỷ lệ âm độ). Bản chất âm học của sự khác nhau giữa thuận tai và nghịch tai được thể hiện trong những độ dài khác nhau của các chu kỳ của các nhóm giao động thường xuyên lặp lại (có nghĩa, của các nhóm với cơ cấu như nhau).

Chẳng hạn, trong một quãng tám, tỷ lệ độ dài của các dây đàn tham gia vang âm (2:1), độ dài chu kỳ giao kết là ngắn nhất.

Ở đây, dòng trên cùng là tần số dao động của dây ngắn (cao), dòng giữa — dây dài (thấp), và dòng dưới cùng là chu kì dao động.

Tương tự, đối với tỷ lệ 3:2, số lần chu kỳ nhiều hơn một chút để các dao động cộng hưởng với nhau, và ta có quãng năm.

Ở các quãng nghịch âm, tỷ lệ này phức tạp hơn so với các quãng thuận âm. Hơn nữa, sự lan toả âm học của các quãng thuận âm (theo thuyết của Hermann von Helmholtz), hoặc là không, hoặc là tạo ra các va đập rất yếu, còn các quãng nghịch âm — sinh ra sự va đập mạnh mẽ. Từ quan điểm tương tác giữa các thanh âm và các bồi âm, sự khác nhau của các quãng liên quan mật thiết đến khía cạnh vật lý. Như thế này, sự khác nhau giữa, — một mặt là các quãng ba, một mặt khác là các quãng hai, — khi tương tác với các bồi âm cường kích nhất, sau sự lặp lại của bồi âm thứ hai só với âm chính, thì âm thứ ba sẽ bị phát hiện (âm tử kép — дуодецимый). Thanh âm g (âm thứ ba của dãy âm tự nhiên tính từ c), sẽ tạo ra cả âm tử ees (quãng ba từ c, nhưng phát sinh một nghịch âm cực mạnh so với a và (đặc biệt) so với as (các quãng sáu từ c). Như vậy, một nền tảng biện chứng vật lý đã được phát minh cho dữ kiện kỳ quặc (và không hoàn toàn logic) của chúng ta, mà trong các thế kỷ XIII-XIV, khi chuyển các quãng ba và quãng sáu vào hệ thống thuận âm, đầu tiên chỉ có quãng ba, còn quãng sáu tiếp tục bị coi là nghịch âm thêm một giai đoạn sau nữa.

Sự khác nhau tương tự có thể được xem xét trong quãng bốn và quãng năm: quãng năm (g) cùng với bồi âm thứ ba tạo ra một sự thuận tai hoàn hảo nhất, còn quãng bốn (f) thua kém nó, tạo hợp với g một nghịch âm cực điểm.

Trong tư duy toán-lý, thuận âm và nghịch âm chỉ khác nhau bởi số đại lượng — như những tỷ lệ đơn giản hoặc phức tạp hơn, còn biên giới chắc chắn và rõ ràng giữa chúng chỉ hoàn toàn là ước lệ, chứ thực ra quan điểm của toán học và vật lý không thể đưa ra một kết luận chính xác cho hiện tượng này. Suy ra, hình dung của chúng ta về những khác nhau có tính lập luận giữa thuận âm và nghịch âm được cụ thể hoá trong các khía cạnh khác của vấn đề, liên quan đến nhận thức của con người về âm này hay âm kia.

(4). CÁC KHÍA CẠNH SINH LÝ NHẠC VÀ TÂM LÝ NHẠC

Sinh lý âm nhạc học nghiên cứu vấn đề, sự vang âm tương tác như thế nào đến cỗ máy hệ thần kinh của con người. Theo Helmholtz, nhận thức về thuận âm là «tính dễ chịu bản năng của sự kích thích êm ái và đều đặn lên các dây thần kinh thính giác» *. Thuận âm, như một sự âm vang kết dính, được hình dung là «bằng phẳng», còn nghịch âm — «thô nhám», và sự khác nhau của chúng khi tác động đến cảm biến sinh lý logic học, có thể so sánh với hiện tượng tương tự trong lĩnh vực cảm xúc khác, ví dụ, thị giác, cảm giác: một ánh sáng đều đặn và yên bình gây ra cảm giác giống như thuận âm, còn ánh sáng chói chang, nhảy cóc — như nghịch âm.

* Hermann von Helmholtz — Thuyết cảm nhận thích giác như nền tảng sinh lý cho lý thuyết âm nhạc. 1875. Trang 469, xem cả các chương IX-XII, XV, XVII.

Trong kết quả đa dạng của sinh lý học âm nhạc (cảm biến) của cảm giác về các âm vang được chia thành các nhóm và phân nhóm như mô tả trong bảng 3.

Bảng 3:


Thuận âm Stt Nghịch âm
Hoàn thành thể quãng một, quãng tám tuyệt đối (1)
quãng năm, quãng bốn cứng (2)
Dở dang quãng sáu trưởng, quãng ba trưởng, quãng ba thứ, quãng sáu thứ mềm (3)
(4) Mềm, không xác định quãng ba cung (quãng năm giảm, quãng bốn tăng)
(5) Mềm quãng bẩy thứ, quãng hai trưởng
(6) Sắc quãng bẩy trưởng, quãng hai thứ

Sau đây là ví dụ về một số quãng âm vang trên đàn guitar (để nghe, cần có đường truyền internet tốc độ cao):

Quãng một (trùng âm):

Quãng hai thứ (1 bán cung):

Quãng hai trưởng (1 cung):

Quãng ba thứ (3 bán cung):

Quãng ba trưởng (2 cung):

Quãng bốn đúng (5 bán cung):

Quãng «ba nguyên cung» (hay còn gọi là «quãng bốn tăng» hay «quãng năm giảm»):

Quãng năm đúng (7 bán cung):

Quãng sáu thứ (4 cung):

Quãng sáu trưởng (9 bán cung):

Quãng bẩy thứ (5 cung):

Quãng bẩy trưởng (11 bán cung):

Quãng tám (6 cung):

Quãng một và quãng tám (vòng đời lặp lại):

Để hiểu được các bài sau, bạn đọc cần thuộc lòng các quãng cơ bản đã ví dụ ở trên với mục đích hình dung, ít nhất là trong khía cạnh sinh tâm lý. MiukaFoto.

Từ quan điểm tâm lý học âm nhạc, thuận âm và ngịch âm — đó không phải là cảm giác, mà là hình dung về các âm vang này hay âm vang kia như những dẫn chất của các giá trị tư duy âm nhạc, các chức năng động lực học âm nhạc. Thuận âm trong sự liên hợp của chúng với các nghịch âm sẽ thể hiện sự yên bình, ổn định, sạch tính bon chen, không cần sức hút, còn nghịch âm — dẫn chất của sự gồng mình, không ổn định, bon chen, chuyển động, sức hút. Mặt tâm lý học âm nhạc quan trọng nhất của quan hệ giữa thuận âm và nghịch âm — xác lập (cứ cho rằng tạm thời chỉ ở mức độ căn bản nhất) giá trị tâm lý học âm nhạc của các thanh âm. Các âm thanh quãng một và quãng tám được trời phú cho sự trang trọng logic bằng các giá trị tư duy; các quãng năm và quãng bốn — bằng quan hệ của sự phụ thuộc logic khi các âm thanh hòa quyện cực độ (đối với các âm thanh có chất lượng khác nhau); các quãng ba và quãng sáu — cũng có sự phụ thuộc logic (một âm luôn được nhận thức như điểm tựa, âm chủ, âm chính của đồng vang, còn âm kia — như một sự thêm vào phụ thuộc vào nó) khi có sự kết dính trung bình (động học); các âm thanh của quãng bẩy và quãng hai nhận được các giá trị logic của đối nghịch với các cấp độ cường kích khác nhau.

Sự khác nhau về tâm lý âm nhạc giữa thuận âm và nghịch âm — không có tính chất số lượng, mà là chất lượng — có thể trở thành phương tiện phân cực của sắc thái âm nhạc. Trong bối cảnh của hệ thống trưởng thứ châu Âu, sự tương phản giữa thuận âm và nghịch âm đạt đến mức đối lập sắc bén và mang một giá trị thẩm mỹ tự lập.

(5). QUAN HỆ CỦA CÁC KHÍA CẠNH VỀ THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM

Như đã thấy từ các phân tích đã nêu, những khía cạnh đa dạng của thuận âm và nghịch âm — không phải thứ gì khác, mà chính là các lĩnh vực thể hiện khác nhau trong hành động của một số quy luật nhất định; chỉ cần so sánh chúng với nhau là đủ, chẳng hạn, bảng liệt kê ở phần trên về các hệ số «các nguyên tử thuận âm» của chúng ta (có bản chất như «Hệ thống chu kỳ» của chúng) và phân chia chúng trong sự phụ thuộc vào tác động của chúng lên cảm giác của con người (xem bảng 3).

Tác động liên hoàn của các hệ tính chất sinh lý nhạc và tâm lý nhạc về âm vang đặc biệt rõ nét trong nhạc nhiều bè đặc thù bằng sự dịch chuyển mềm mại từ nghịch âm về thuận âm — như một cách giải quyết. Liên quan tới điều đó, khi khi sự căng cứng của âm thanh được thả lỏng, nó sẽ mang tới một hiệu ứng thư giãn, gọi ra trong thẩm mỹ một cảm giác rất riêng về sự thỏa mãn. Sự tăng cường áp lực và cân bằng khi tháo gỡ chúng một cách có hệ thống sẽ tạo ra dường như «nhịp thở hài hòa» của âm nhạc, thứ đôi khi rất giống với nhịp điệp sinh học của một vật thể sống (nhịp thở, sự co bóp của cơ tim). Dạng thức hồi hộp của những chuyển động này, trong tận cùng của kết quả chính là ánh xạ của các nhịp điêu Vũ Trụ.

Tuy nhiên, sự cứng nhắc như thế đối với hệ tính chất của âm vang trong các khía cạnh khác nhau (và cách tương tự trong sự thể hiện chúng) tất cả đều không là tuyệt đối. Trong một số trường hợp, chúng ta quan sát thấy sự phân hướng rõ ràng giữa các khía cạnh khác nhau trong tác động của các thuận âm và các nghịch âm. Chẳng hạn, trong sự âm vang quãng bốn và quãng sáu, giá trị tư duy của các thanh âm (khía cạnh tâm lý học của vang âm) thậm chí có thể hội tụ vào một điều đối nghịch rõ ràng với các tính chất vật lý (âm hưởng) dường như là không thay đổi được của các quãng này. Từ quan điểm tâm lý học âm nhạc, quãng bốn như một thuận âm hoàn thành thể — thể hiện sự ổn định, yên bình, không căng cứng. Tuy nhiên, theo sự tương tự với đối tượng hướng đến của mình (quãng năm), quãng bốn có âm chủ được thể hiện rõ ràng. Nhưng bởi vì nó được sắp xếp không ở dưới gốc, mà ở trên điểm ngọn của quãng, điều này gây ra nghịch lý giá trị tư duy của âm gốc như một nền móng chung của âm vang. Trong kết quả của nghịch lý đó, quãng bốn trong quan hệ với giọng dưới thường được diễn giải như sự đồng âm vang tự lập không ổn định, được diễn giải như nghịch âm.

Bằng cách đó, những biến động lịch sử trong diễn giải quãng bốn được bộc lộ. Nơi nào có hiện tượng âm chính không tồn tại hay được cố tình bỏ đi (đàn organum cổ, một số thể loại nhạc nhiều bè truyền thống, âm nhạc thế kỷ XX), các tính chất của quãng bốn như một thuận âm hoàn thiện trở thành chủ đạo tự nhiên, và quãng bốn được áp dụng khá dễ dàng. Còn ở nơi nào có sự hiện diện của âm chủ — tiêu chí quan trọng nhất của giá trị tư duy trong đồng âm vang (nhạc nhiều bè châu âu, bắt đầu từ việc xây dựng các quãng bốn-tám trong âm nhạc các thế kỷ XIII-XIV, tiến đến bao gồm cả thế kỷ thứ XIX), quãng bốn đến âm bass (trường hợp riêng, cả các tam âm quãng bốn-tám, ví dụ, d-g-d1) cũng không được chấp nhận. (Tương ứng, nếu quãng bốn trong hợp âm — không phải đến bè bass, thì không phát sinh mâu thuẫn và quãng bốn được diễn giải như một thuận âm hoàn thành thể, ở đó, các quãng bốn song song trong hoà âm cổ điển không nằm trong hoàn thành thể, nhưng — tương tự như các quãng năm song song — chúng sẽ ẩn náu.)

Đôi khi các tính chất tương tự cũng có ở quãng sáu, vì vậy, như một quy luật, nó không được sử dụng trong các âm vang kết bài (ví dụ, một tác phẩm giọng C-trưởng không được kết thúc bằng vang âm с-а-с1).

Tất cả các tính chất kể trên của thuận âm và nghịch âm (với các hình dung cụ thể) bộc lộ không những trong song âm, mà còn trong cả các hợp âm.

MiukaFoto

21 Dec 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!