Nhiếp ảnh gia tự định hướng trong thời gian và không gian, ngầm hiểu đó là kịch bản và chính mình. Anh ta cần mờ dần đi, quên tất cả, trong lúc chỉ nghĩ làm sao để, thông qua một chi tiết giản dị, nhưng có giá trị, mở toang ra thực tại...
Henri Cartier-Bresson 
(1908 - 2004)

GIỚI THIỆU SÁCH HÒA ÂM CỦA GIÁO SƯ KHOLOPOV

Yuri Nikolaevich Kholopov (1932 — 2003) — là một nhà nghiên cứu và nhà sư phạm âm nhạc người nga, tác giả cuốn sách học thuyết mới về hòa âm. Ông là Giáo sư nghệ thuật, Nghệ sỹ Nhân Dân của LB Nga (1995), «Người của năm» tại Viện Sinh học Hoa Kỳ (1998), Thành viên của Học Viện châu Âu (Academia Europaea, London). Kholopov có hơn 800 sách đã xuất bản, trong số đó có 10 nghiên cứu chuyên sâu.


LỜI NÓI ĐẦU

Quá trình nhận thức hòa âm diễn ra theo hai cách. Phần quan trọng nhất của việc học tập là nghiên cứu thực hành về hòa âm (tuân theo quy tắc «Tương đồng được nhận thức theo tương đồng») thông qua phương tiện giao hòa nghệ thuật tới sự sáng tạo ra nó trong ghi chép và chơi trên đàn dương cầm. Không kém phần quan trọng, nắm bắt lý thuyết và thực tập hòa âm trong phần đọc sách, đọc thêm về sách khoa học, cũng như thực hành các mẫu hình nghệ thuật. Đó cũng chính là nhiệm vụ lý thuyết của khóa học này. Các cụm vấn đề, được đưa ra trong cuốn sách, toàn bộ tương ứng với chương trình giảng dạy về hòa âm hiện nay (trong phần lý thuyết) cho chuyên khoa lý thuyết lich sử âm nhạc. Ngoài ra, trong giáo trình còn thường xuyên đề cập tới các dữ kiện về lịch sử phát triển của hòa âm (thực chất, không có một mục riêng cho phần này). Các quy luật có tính phong cách âm nhạc, được đưa ra trong cuốn sách, dựa trên kho tàng âm nhạc các thế kỷ XVIII-XIX («thế kỷ vàng» của hòa âm). Tuy nhiên, các thời đại xa xưa hơn, cũng được đụng chạm tới, và hệ thống thời kỳ cuối của hòa âm lãng mạn cũng tiên đoán nhiều điều về âm nhạc trong thế kỷ ХХ.

Cuốn sách, là một khóa học về lý thuyết, đồng thời là một nghiên cứu khoa học về các vấn đề nền tảng của hòa âm. Tác giả xem xét nhiều vấn đề cụ thể của hòa âm trong hình thức toàn vẹn của thuật ngữ hình thức âm nhạc. Mục đích chính của nghiên cứu này - trong cấp độ hiện đại của khoa học, theo khả năng có thể, đưa ra trình bày đầy đủ những vấn đề cơ bản có tính tạm thời của hòa âm, có trong âm nhạc của thế kỷ ХХ, vào một khái niệm chung của hòa âm trong âm nhạc - cũng như, tất nhiên, về câu hỏi, nghệ thuật quá khứ đã thâm nhập vào hiện tại như thế nào. Cuốn sách có kèm theo một số lượng lớn các minh họa ký âm, giúp chúng ta nhận ra rõ ràng hơn các đính mục khoa học. Cuốn sách này cần cho các nhà thuyết học - nghiên cứu hòa âm, cũng như cho giáo viên của các nhạc viện, và các sinh viên đang học về hòa âm (hòa thanh).

Từ góc nhìn khái niệm của tác giả, tuy liên quan mật thiết đến lý thuyết về hoà âm của I. V. Sposobin (cũng như, ở mức độ nào đó, Yu. N. Tyulin và B. L. Yavorsky), thực ra tất cả đều xuất phát từ phân tích tâm lý lịch sử các tình huống nghệ thuật hiện đại: nghiên cứu lý thuyết vấn đề cơ bản của hoà âm, phát hiện ra gốc rễ sâu xa cũng như sức mạnh của chuyển động âm nhạc, «tiếng nói» của nó, và cũng như các giá trị vô cùng to lớn, đến mức, chúng thậm chí vẫn không hề bị lay chuyển trong các luật lệ hà khắc nhất của các thời kỳ tôn giáo.* Quá khứ lịch sử, chúng ta phân tích như những lớp logic sâu thẳm của đương đại. Trong sự thống nhất của logic và lịch sử có một sức mạnh cho phép ứng xử với các vấn đề cổ xưa về hài hoà, quyện âm, nghịch âm, thang âm, hợp âm, các âm thanh bất hợp âm, trạm tạm trú hữu cơ, thanh nhạc - như những yếu tố lịch sử đã được xác định và ngày hôm nay biến thành thực tế ứng dụng.

Sau quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt và áp dụng trên thực tế, các thuyết có giá trị hàng đầu, tất nhiên, là của những Jean-Philippe Rameau, Moritz Hauptmann, Simon Sechter. Thực ra, trong dạng nguyên thuỷ, lý thuyết của Hugo Riemann có những điều không thể chấp nhận (trước hết, đó là sự diễn giải nước đôi về trưởng và thứ); hơn nữa nó chỉ hướng đến phong cách cổ điển thành Viên; còn ở đây chúng ta chỉ quan tâm đặc biệt đến hoà âm của thời kỳ có ảnh hưởng trực tiếp đến tân nhạc thời nay — đó là, từ cuối thể kỷ XIX đến đầu thế kỷ ХХ. Bởi vậy, để mở toang cánh cửa tiến vào thuyết hoà âm hiện đại, cần chỉ trích và tổ chức lại các khái niệm cổ xưa.

Jean-Philippe Rameau, by Jacques Aved, 1728. Nguồn: wiki.

Moritz Hauptmann. Nguồn: wiki.


Simon Sechter. Lithograph by Josef Kriehuber, 1840. Nguồn: wiki.

Hugo Riemann (Hamburg, 1889). Nguồn: wiki.

Có một sự giới hạn khi chỉ thể hiện các hợp âm bậc I, IV và V bằng ba chữ cái T, S, D. Kể cả có thêm vào một kí hiệu trộn nữa cho bậc III là DT, thì đó là điều khó chấp nhận được trong khoa học. IV và V là hai bậc ít nhiều liên quan tới bậc chủ hơn. Các bậc còn lại được kí hiệu bằng các chữ số La Mã: II, VI, VII (mặc dù đó là sự che giấu có ẩn ý).

Dù lý thuyết về hoà âm có «khó» đến mức nào, nó là giải thích duy nhất cho hiện tượng tổng thể âm nhạc Âu châu (các thế kỷ XVIII-XIX). Trong khoa học, hiện tượng này chiếm một vị trí có giá trị, chẳng khác gì trong các tác phẩm âm nhạc của Mozart, Beethoven, Chopin hay Chaikovsky. Tương ứng, sự đúng đắn của lý thuyết âm nhạc cũng là trái tim, trung tâm logic của khoa học và hoà âm.

Từ quan điểm của phương pháp khoa học, việc đặc biệt quan trọng là cần tiến hành phân biệt lý thuyết với thực nghiệm. Trong khoa học, chân lý cần được thể hiện toàn diện «từ đầu đến chân», thể hiện hết các đại lượng của mình, bắt đầu từ thẩm mỹ của hiện tượng nghệ thuật (tương ứng với kỹ năng bố cục), từ thư pháp, triết học, xã hội học, ý thức hệ, — xuyên qua hình dung về nhận thức tâm lý, thẩm thấu qua sinh lý học về cảm giác âm nhạc, vật lý học về sự âm vang thực tế (không gian âm thanh, «thiên nhiên»), — rồi mới tiến sát đến vẻ đẹp khiêm nhường của các phân số. Tác giả không cho rằng, «trong bất kỳ học thuyết nào cũng chất chứa biết bao nền tảng khoa học và toán học», tuy nhiên, rõ ràng thấy, trong hàng loạt các khía cạnh của khoa học về hoà âm (đặc biệt là ở cấp độ nền móng, căn bản) sự số hoá tính quy luật trong nhận thức cũng là rất cần thiết để tiến vào ngôn ngữ tự nhiên của khoa học lý thuyết âm nhạc.

Liên quan đến phương pháp khoa học cũng là phương pháp lắng đọng của chất liệu lý thuyết. Để khoa học về hoà âm có thể trở thành xác thực, không được chấp nhận thay thế diễn giải lý thuyết bằng các ứng dụng đời sống hay những điều tương tự mang tính bất âm nhạc; bản thân sự lắng đọng cần có phong cách chuyên môn, mặc dù, được ngầm hiểu, nên đưa ra chất liệu trong một dạng thức đơn giản và dễ tiếp cận nhất, khi nhiều điều có thể giải thích được trong sự tương tác trực tiếp với âm nhạc hay các ví dụ ký âm (bởi vì sự tiếp nhận bằng thính giác là phần lý thuyết quan trọng bậc nhất trong phương pháp của nó trong vấn đề nhận thức âm nhạc). Sự cố gắng đạt được diễn giải toàn vẹn trong tổng thể đòi hỏi sự giới hạn tối ưu của cuốn sách về khối lượng chữ nghĩa khi động chạm tới vấn đề này hay vấn đề khác. Do tính đồ sộ của khối lượng các vấn đề cổ điển lãng mạn của hoà âm (và một số thể loại chung), ta buộc phải từ chối các biên độ phát sinh nội dung, và hơn nữa, sự lạc đề vào những lĩnh vực lai tạp nào đó. Chính vì lý do đó, tác giả buộc phải tinh giản sự cô đọng quan điểm của các thuyết giả khác nhau (để khoá học về «hoà âm» không bị biến tướng thành khoá học «hệ thống nhạc lý», ở đó, nói luôn, giá trị chủ yếu thuộc về các lý thuyết về thang âm và hoà âm).

Lý thuyết hoà âm cũng cần sự sáng tỏ tuyệt đối trong các định nghĩa của hoà âm trong một tác phẩm - các chức năng của mỗi hợp âm và một thanh âm, xuyên suốt bản nhạc chứ không phải rời rạc ở một số bước chuyển lẻ tẻ. Khoa học của chúng ta thậm chí đòi hỏi cả một ký hiệu cụ thể của hoà âm dưới các nốt nhạc trong các ví dụ được trích dẫn. Sự định hình đó sẽ chỉ ra lý thuyết của hoà âm một cách sáng tỏ trong thực tiễn. Chỉ khi có điều kiện này mới có thể nói về sự phân tích hoà âm. Hoàn toàn cụ thể để nói về định nghĩa hoà âm của một tác phẩm âm nhạc trong trong sự cố gắng của các thuyết gia đã đặt nền móng cho khoa học hài hòa như Rameau, Riemann. Các biểu mẫu có thể là phương pháp lắng đọng trong cuốn sách cuối cùng «Tất cả các bản sonata của L. van Beethoven. Phân tích kỹ thuật thuần túy và thẩm mỹ, kèm các đánh dấu lịch sử» (1918-1919). Phân tích hòa âm và hình thức ở đó là một thể toàn vẹn tự nhiên của âm nhạc. Để có thể ký hiệu «xuyên suốt» hòa âm bằng các hợp âm, người phân tích không những cần hiểu rõ hệ thống của nó, mà còn cần một công cụ để định hình ngôn ngữ phân tích có tính chuyên môn và đặc thù. Không nên nghĩ rằng, việc biết xác định một cách chính xác chức năng của các thanh âm và các hợp âm là một cái gì đó «ấu trĩ», «dành cho học sinh trung học». Một nghiên cứu khoa học bất kỳ về hòa âm sẽ là vô nghĩa nếu như thiếu đi thẩm âm. Điều này đặc biệt quan trọng nếu nói về hòa âm của thế kỷ XX, với hệ thống đa nguyên của nó. Nhưng nền tảng của kiến thức hiện đại là hệ thống hòa âm cổ điển và hơn cả là giai đoạn hậu lãng mạn sau này, sẽ được nói đến cụ thể trong công trình.

Nếu như vào thời của Bach sự phụ thuộc của loại hòa âm vào vị trí của các phần trong hình thức được thể hiện khá yếu, thì từ thời các nhạc sỹ cổ điển thành Viên, nó bộc lộ khá rõ nét và đa dạng (ví dụ, hòa âm của khúc dạo mở rộng, đôi khi lại tuân theo những quy luật khác so với phần sonata chính). Từ đó rút ra một cách nhìn quan trọng bậc nhất về hòa âm, trước hết, dưới dạng cấu tạo gần gũi, trong thuật ngữ hình thức âm nhạc. Các hợp âm riêng rẽ của hòa âm, trong thuật ngữ đó, không có nghĩa gì khác, ngoài tính tự lập, và, chỉ có các hình thức - kết cấu được đưa vào, chúng mới thể hiện bản chất của mình.

Tất cả những điều đã nói ở trên sẽ được thể hiện trong kết cấu của cuốn sách giáo khoa này.

Phần thứ nhất nói đến hàng loạt các thái cực quan trọng nhất của hòa âm: bản thân khái niệm hòa âm, sự hoạt động của nó trong sóng âm (sự phân cấp của cộng hưởng và nghịch triệt), các khái niệm cấu trúc cơ bản của hòa âm trong triển khai tạm thời (theo thang âm ngang) và trong đồng thời (theo đường thẳng đứng - hợp âm), các yếu tố chuyển động trong triển khai tạm thời (sự không nhất quán tuyến tính; trong hòa âm - các âm thanh bất hợp âm), sự xuất hiện của hiện tượng hòa âm nhiều bè (các trụ cột hòa âm chủ đạo - trạm trú hòa âm), tác động của các bất ổn định tuyến tính trong mô đa thanh (chỉnh giọng).

Phần thứ hai của cuốn sách sẽ phát triển lý thuyết về các cấu trúc hòa âm, bắt đầu từ các mắt lưới hòa âm căn bản nhất (một dạng hệ thống quãng) thông qua đặc tính của các dạng cơ bản của cơ cấu thang âm (các thang âm phương thức, và, giọng hòa âm) đến vấn đề khoa học về hòa âm - lý thuyết chức năng. Xem xét tổng hợp về tác động của hòa âm trong âm nhạc nói chung, sẽ được nói ở chương cuối "Hòa âm và định hình».

Từ số các công trình nghiên cứu của tác giả, xuất bản gần đây, một số liên quan tới vấn đề phát sinh của cuốn sách này, và có thể xem xét như phụ lục cho một số phần:

  • PHÂN TÍCH HÒA ÂM, 1996.
  • PHÂN TÍCH HÒA ÂM. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ VỀ GIẢNG DẠY HÒA ÂM TRONG TRƯỜNG NHẠC. Rostov-na-Donu, 1997 (đồng tác giả V. S. Tsenova).
  • THỜI TÂN NHẠC. VỀ HÒA ÂM CỦA RIMSKY KORSAKOV. CÔNG TRÌNH KHOA HỌC, 2000.
  • CÁC CẤP ĐỘ CẤU TRÚC CỦA HÒA ÂM, 2000.
  • CÁC BẬC VÀ CHỨC NĂNG, HAY LÀ XÁC ĐỊNH HÒA ÂM THẾ NÀO CHO ĐÚNG. HÒA ÂM: CÁC VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP. Rostov-na-Donu, 2002.
  • HÒA ÂM. KHÓA THỰC NGHIỆM: SÁCH GIÁO KHOA CHO NHẠC VIỆN, 2003.

Trong phần kết, tác giả nhận trách nhiệm nói lời cảm ơn tới tất cả độc giả và những cộng tác viên đã xem lại bản thảo, vì những nhận xét bổ ích và lời chúc: I. A. Akbarov, A. I. Ambrazas, T. B. Baranova, T. S. Bershadskaya, S. P. Galitskaya, S. S. Goncharenko, A. N. Myasoedov, E. B. Nazaikinsky, V. M. Tsendrovsky; Cảm ơn tất cả những người đã tham gia thảo luận trong các công trình, - các cộng tác viên từ khoa lý thuyết âm nhạc tại Nhạc viện của các thành phố Vinnhius, Gorkovsky, Saint-Petersburg, Moscow, Novosibirsk và Tashken, cũng như, người đồng nghiệp từ Balan M. Nizyursky.

Tháng hai, năm 2003.

Người dịch: MiukaFoto

12 Dec 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!