«Nhiếp ảnh — đó chính là sự hướng tới của: hội họa, bố cục, nhịp điệu uyển chuyển, hình học, — những thứ được sắp xếp trong một phần nhỏ của một giây»
Henri Cartier-Bresson 
(1908 - 2004)

KHÔNG GIAN CHO NGHỆ THUẬT

Có thể nói về tính độc lập của hình ảnh trong nhiếp ảnh hay không, khi mà nó giống hệt như vật ảnh? Trong hội hoạ, mỗi một vệt màu, mỗi một cái phẩy bút và mỗi một đường nét đều là sản phẩm của hoạ sỹ, kết quả từ tư duy và trạng thái của anh ta, còn hình ảnh trong tổng thể — sự tự biểu lộ mình của anh ta, mà ở đó nó không hề giống như bên ngoài. Mức độ bất tương ứng giữa thực tại và hình ảnh là điều kiện cần cho nghệ thuật.


Nhưng sự khác nhau giữa hình ảnh và vật ảnh có cả ở trong nhiếp ảnh, mặc dù, không cần phải bàn cãi, nó nhỏ hơn so với hội hoạ và đồ hoạ.

Nếu hình ảnh thực sự không là sao y bản chính của vật ảnh, như người ta vẫn thường nói, thì thuộc tính nghệ thuật trong nhiếp ảnh là có thể đạt được. Khi đó chúng ta có thể nói về sáng tạo hình thức trong nhiếp ảnh hay về nghệ thuật nhiếp ảnh, các tác phẩm của nó trong một số trường hợp riêng rẽ có thể đạt tới độ đặc sắc, chẳng khác gì các tác phẩm hội hoạ và đồ hoạ.

Hơn nữa, ảnh nghệ thuật còn là sự chứng minh duy nhất và không phải bàn cãi về chính những điều có trong thực tại, mặc dù chúng có hỗn loạn và bất ngờ đến đâu, và, vẫn tồn tại những khoảnh khắc không những hiếm hoi, mà còn là sự dừng hình của sắc đẹp, của tư duy, thứ chúng ta có tiền cũng không thể mua được.

Nhiếp ảnh gia «nắm bắt» được khoảnh khắc đó trong sự sẵn có lẻ tẻ, điều còn lại phải làm là suy luận và hô biến thuộc tính nồi lẩu đáng yêu của nó đến cấp độ của nghệ thuật, đánh giá mọi quan hệ đa dạng và đặt viên gạch cuối cùng cho một ngôi nhà toàn vẹn. Bài toán của nhiếp ảnh gia, nếu như nói về ảnh nghệ thuật, — rót đầy ý tưởng vào chén rượu mang tên bố cục.

Không chỉ một lần, chúng ta đã nói, rằng nhiếp ảnh gia trong phần lớn các trường hợp không tự tạo ra những tình huống nào đó trong thực tại, mà chỉ phản ứng trước những trò chơi xuất hiện ngẫu nhiên trên sân khấu cuộc đời.

Thời gian để quyết định chỉ là vẻn vẹn một phần nhỏ của một giây. Bởi vậy rất quan trọng là phải quên đi chính mình, kinh nghiệm của mình, hình dung về những điều quen thuộc, quên ngay và luôn những bức ảnh có tình huống tương tự, — và hoàn toàn hoá thân và tình huống, không được phép nhận thức nó bằng trí khôn, mà bằng các sợi dây thần kinh và trái tim.

«Vật ảnh không hiến dâng cho nhiếp ảnh gia, nếu anh ta không nắm giữ lấy nó bằng áp lực trong tất cả cảm xúc và bản ngã của mình» (Siegfried Kracauer, 22 - 40).

Chúng ta sẽ xem xét hình ảnh nhiếp ảnh từ góc độ tương ứng của nó với đối tượng vật ảnh thực tế.

Nhiếp ảnh — kết quả của cái nhìn một mắt, cũng giống như hội hoạ. Sự trùng khớp chính xác và thường là cố ý của các sự vật giữa các lớp cảnh khác nhau — nguyên tố của ngôn ngữ nhiếp ảnh. Khi ngắm nhìn hình ảnh phẳng, tất cả các tín hiệu về độ xa đều không hoạt động. Thay vào đó là các dấu hiệu thị giác về chiều thứ ba, cho phép cảm giác mạnh nhất về ảo ảnh phối cảnh.

Ảnh đen-trắng — một sự ước lệ xác định, mặc dù, tất nhiên, đồ hoạ so với nhiếp ảnh, chau chuốt hơn và ước lệ hơn rất nhiều. Ngôn ngữ của đồ hoạ bao gồm sự biểu cảm của nét bút qua bàn tay hoạ sỹ (ánh xạ với chất liệu). Bề mặt của tờ giấy trong đồ hoạ thông thường không ẩn náu, bởi vậy không gian ở trong nó có cách đo lường khác. Nhiếp ảnh, ngược lại, trong suốt và lải nhải cực độ do có tính dư thừa thông tin.

Nếu tưởng tượng thế giới thành đen-trắng, ánh xạ của nó trên giấy ảnh sẽ có vô vàn bất tương ứng sắc độ. Để đạt được sao y bản chính của các đối tượng thực tế, đen thành đen, xám thành xám — bài toán kỹ thuật tuyệt đỉnh khó khăn. Bù lại, trong ảnh đen-trắng, nhiếp ảnh gia có khả năng xây dựng quan hệ sắc độ một cách gần như hoàn toàn tự do với sự trợ giúp của ánh sáng, đo sáng, bộ lọc, tráng phim và in ảnh. Bầu trời trong ảnh phong cảnh có thể là trắng tinh, xám ngắt hay đen tuyền cùng với hình ảnh của những đám mây các loại. Bằng cách thay đổi quan hệ sắc độ thoát khỏi tính giống như thật, nhiếp ảnh gia tạo ra không gian cần thiết cho mình và đạt được sự biểu cảm.

Người ta thường nói, ảnh đen-trắng biểu cảm gấp bội lần so với với ảnh màu, mặc dù thiếu vắng các màu sắc thực tế. Điều vi diệu đứng đằng sau đó, chỉ có thể là khả năng huyền bí và lay hồn của màu đen: đen với cấu trúc hạt hay màu đen than khô sạm. Các mảng màu đen có thể nhận thức chủ quan như đang nằm trên bề mặt ảnh, lồi ra trước hoặc thụt sâu vào không gian ảnh.

Lợi thế cơ bản của ảnh đen-trắng — đó là tính không nói hết, bâng quơ, ỡm ờ, đánh tiếng, khêu gợi, mã nguồn mở, những tính chất làm cho nó trở thành vô cùng hấp dẫn. Người khôn ăn nói nửa lời, ảnh hay chỉ chụp góc đời lơ mơ. Đại loại là như vậy.

Vật ảnh và hình ảnh của nó trên giấy ảnh, so với ảnh màu, khác xa hơn rất nhiều. Bởi vậy thuộc tính nghệ thuật trong ảnh đen-trắng dễ đạt được hơn ở mức khó tin, nhưng sự thật là như thế.

Sắc độ mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện của hình ảnh tạo nên sự biểu cảm cực đỉnh trong ảnh đen-trắng, mặc dù các vết hình trong khu ngập tràn ánh sáng và khu âm u tối dần có thể khác nhau về màu sắc.

Từ chối màu sắc, ảnh đen-trắng lập tức có ngay những khả năng đặc biệt để tạo ra quan hệ và tương tác mới mẻ. Chẳng hạn, trời xanh và áo vàng của cô gái tiền cảnh trở nên tương phản đến mức, không có cách gì tương tác được với nhau trong thực tế, bù lại trong ảnh đen trắng có thể ăn nhập với nhau. Quan hệ sắc độ mới tạo ra ý nghĩa mới mà trước đây không thể có được. Bởi vậy, bố cục của hình ảnh đen-trắng giầu có hơn rất nhiều nhờ vào quan hệ và tương đồng, có nghĩa mang đến nhiều khả năng hơn cho ngôn ngữ hình ảnh, thứ thường là vô nghĩa trong thị giác của thực tế.

Nhưng chưa hết. Điều tương tự cũng xảy ra với màu váy vàng của cô thắm và màu gạch của bức tường phía hậu cảnh, mặc dù chúng khá gần nhau về màu sắc, tuy nhiên không thể có một liên kết mạnh trong không gian thật (thậm chí ngay cả khi có sự tương đồng về hình học) bởi một lý do rất đơn giản, khi chúng ta nhìn vào váy, thì không nhìn thấy nhà (độ mở bắt nét của mắt chỉ ở đâu đó 3 độ), còn nếu liếc mắt về phía ngôi nhà, — không nhìn thấy váy. Có nghĩa chúng ta vẫn nhìn thấy, tất nhiên, nhưng chỉ là thấy một cách mù quáng, không nét, nhiễu loạn tập trung. Hoặc đúng là không thể nhìn thấy một cách đồng thời, đầu tiên tia một thứ, sau đó quay đầu liếc mắt và mới nhìn thấy thứ kia. Còn trong ảnh (ảnh đen-trắng hay thậm chí cả ảnh màu) chúng, váy và nhà, có khả năng đứng sát cạnh nhau và nhờ đó có ngay một sợi dây thắt nút vô hình, thứ, rất có thể, sẽ xây nên một bố cục. Ảnh áo và ảnh nhà nằm trên cùng một mặt phẳng, nét như nhau và kết làm hàng xóm của nhau theo một cách xác định. Và thậm chí khi chúng ta nhận thức ngôi nhà và cô gái trong trong phối cảnh, mối liên hệ «phẳng» đó vẫn mạnh mẽ như trước, bởi vì tất cả đều rõ nét (hình 388).


Mặt phẳng ảnh truyền cho các đối tượng từ các lớp cảnh khác nhau một sự tự do tương tác mới, chưa từng có, bỏ qua sự khác nhau rõ ràng về độ xa của chúng tới mắt trong không gian thực.

Hiện tượng này có thể coi là sự phi thường cơ bản của hình ảnh phẳng, bởi vì nó đúng với tất cả các hình ảnh trên mặt phẳng, dù là vẽ tay hay ảnh chụp.

Những sự vật được thể hiện trên giấy ảnh cũng như trên vải vẽ không phải là bản copy y nguyên hay tấm gương của các sự vật trong thế giới thật. Trong không gian cùa mặt phẳng, chúng có một cuộc sống khác, theo những định luật hoàn toàn khác, không những các quan hệ mềm dẻo, mà các tương tác tư duy giữa chúng cũng thay đổi theo. Xác lập những tương quan mới giữa các sự vật trên mặt phẳng giấy ảnh hay vải vẽ, những tương quan không thể có được trong thế giới không gian hiện hữu, — đó chính là nhiệm vụ đã được xác thực của nghệ thuật biểu hình và ảnh nghệ thuật. Chính mặt phẳng đã cho phép các sự vật sự tự do để sống một cuộc sống khác. Nhờ có mặt phẳng và những đặc biệt khi nhận thức nó, hình ảnh bỗng trở thành một thực tế mới, thành thế giới thứ hai mà người ta hay nói tới khi bàn về nghệ thuật.

Và mặc dù thực tế «hàng giả» này rất gần với hàng thật, nó là hoàn toàn khác, và nó cho phép chúng ta nói về thuộc tính nghệ thuật trong nhiếp ảnh, dù là ảnh phong cảnh, tĩnh vật hay phóng sự.

666.

Người đàn ông trong ảnh như đội trên đầu mình cả thành phố. Hiệu ứng phối cảnh ngược (trắng gần, đen xa) làm cho ông ta như bay vào chiều sâu của không gian ảnh, tới phía mặt nước sáng sắc độ của hồ Rùa. Chính ảo ảnh «biết bay» này làm cho chiếc áo thun trắng của ông hoạ sỹ như một khoảng hở tưởng tượng của gầm cầu cong tròn theo bờ vai. Chỉ có ảnh đen trắng mới cho phép hậu cảnh bay về tiền cảnh. Cuộc sống vất vả, nhân dân loanh quanh, họ như loài vượn tiến hoá với chiều cao tăng dần theo tỷ lệ vàng, cũng giống hệt như ba ô chữ nhật, tiến về quá khứ (phần bên trái phía trên của hình ảnh thường là nơi bắt đầu củ cái nhìn). Thật nghịch lý khi loài người lại tiến hoá theo chiều ngược dòng của thời gian. Và, như một món quà của số phận, người đàn ông «gầm cầu» cũng đang nhìn về phía đó (hình 666).

779. Pier Laurenza

Cô gái Việt Nam trong tác phẩm của Pier Laurenza. Bức ảnh làm MiukaFoto nghĩ tới nguồn gốc xa xôi của một sắc đẹp Giao Chỉ. Cô gái nào chẳng giống cô gái nào dù họ có đẹp đẽ hay nóng bỏng đến đâu. Nhưng nhiếp ảnh gia dường như đã để ý rất tinh tế đến hậu cảnh, nơi có hàng chữ Hán-Nôm thẳng đứng. Nó rất ăn nhập với hàng dây buộc áo, có nghĩa, ép buộc chúng ta phải liên tưởng, suy nghĩ về lịch sử, nguồn gốc hay lai tạp văn hoá giữa các dân tộc. Đống rơm, dù có 100 triệu cọng rơm, cũng chỉ là một đống rơm mà thôi, bởi vì, khi các chi tiết co cụm thành hàng xóm và đồng hương của nhau, chúng được tinh giản hoá trong nhận thức như một đối tượng duy nhất. Ám ảnh, có thể, nếu nhìn thấy hai mảng đen đối xứng nhau phía trên bên trái. Ảnh đen trắng và khẩu độ nhỏ cho phép nhiếp ảnh gia liên kết các lớp cảnh của không gian thị giác mù quáng vào một bề mặt của tư duy. Mặc dù, trong thực tế, rất có thể, đống rơm màu vàng, chiếc áo màu lúa khô và hàng chữ Hán-Nôm màu đất.

Ảnh «đẹp mắt» — không khó để làm ra. Còn ảnh có ý nghĩa, có tâm hồn, có tư duy, thì không hề dễ dàng có thể đẻ ra được. Tất cả phụ thuộc vào trái tim của người cầm máy, hệ thần kinh rung động cũng như bề dày văn hoá của họ.

Bởi vậy, không một nhiếp ảnh gia nào có thể ngạo nghễ nói «tôi đã học xong môn nhiếp ảnh». Và chúng ta vẫn cứ vác máy đi chụp, chụp nữa, chụp mãi...

MiukaFoto - dịch và phát triển theo Fotografiya Kak...

6 Dec 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!