Cần nhìn thấy thứ không có, nhưng có thể có, nếu như có một cái gì đó cũng không có.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

BẢN CHẤT CỦA NHIẾP ẢNH

Sự nhận thức một hình ảnh nhiếp ảnh được ước lệ vào cơ cấu có bản chất kỹ thuật của nó. Người ta thường quy đổi đặc thù của nhiếp ảnh sang tính tư liệu và tính chân thật, ngầm hiểu, hình ảnh nhiếp ảnh là kết quả của một quá trình vật lý - hoá học (có vẻ như) thiếu sự tác động của con người, và thế là nó, hình ảnh này, (có vẻ như) có một tính khách quan triệt để, bất tiếp cận trong bất kỳ một phương pháp nào khác của hình ảnh thực tại. (Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng xem xét ý nghĩa của những «có vẻ như» này.)

 TÍNH TƯ LIỆU

André Bazin viết: «Tất cả các nghệ thuật đều đặt nền tảng vào sự tác động của con người, và chỉ trong nhiếp ảnh chúng ta mới có thể thư giãn trong sự bàng quan của họ». Ông cũng nói về «sức mạnh vô lý của nhiếp ảnh, thứ đang thúc đẩy chúng ta phải tin vào thực tại của nó» (6 - 44, 45).

Thành thử, tính tư liệu — đây là một sự dâng hiến nào đó (ngày nay chúng ta hay nói «chụp ảnh cúng Phây (facebook) — MiukaFoto) — một tính chất của giấy ảnh và tất cả những gì được thể hiện trên đó, một phần huyền bí mơ hồ của bức ảnh.

Kharkiv, Ukraine. Tháng 6/2012.

Một bức ảnh bất kỳ, hiện đại hay hoài cổ, được hiểu là một con người cùng với máy ảnh, không thể nào khác được (trạng từ Nga ngữ: непременно), có mặt ở chỗ đó vào đúng lúc đó. Họ, nhiếp ảnh gia cùng với người bạn ống kính máy ảnh của anh ta, chính là nhân chứng xác thực, còn bản thân bức ảnh — chỉ là một văn bản khảng định như một vật chứng. Thế là chúng ta có một hiệu ứng cực mạnh của sự can phạm. Giải thích về tính tư liệu nằm trong chính điều này.

Nhiếp ảnh cho chúng ta khả năng nhìn lại quá khứ, quả thật, nó luôn luôn nằm ở phía sau lưng thời gian, luôn luôn kích ứng cảm giác hoài niệm (nostalgia).

Điều gì liên quan tới tính chân thật của nhiếp ảnh? Nó đã từ lâu biết giả lập thực tại và nói dối một cách chân thành. Ngày hôm nay, trong thế kỷ tuỳ tiện của điện toán, nói về tính chân thật của một hình ảnh nhiếp ảnh, cần vô cùng thận trọng.

Vậy, quá trình chụp ảnh có tính tư liệu bao nhiêu, thì nhiếp ảnh có tính tư liệu đúng bấy nhiêu. Trong bức ảnh cuối cùng không có nổi một phân tử của sự thật.

 TÍNH DƯ THỪA THÔNG TIN

Tính tư liệu liên quan tới số lượng thông tin trong bức ảnh. Cùng với thông tin thị giác có giá trị, mặt phim đồng thời nhận được hàng loạt chi tiết và dữ kiện thứ cấp không cần thiết, hoàn toàn không có quan hệ gì với điều chủ yếu, quan trọng duy nhất, mà nhiếp ảnh gia đã cố gắng ấn tượng hoá. Đôi khi chiến đấu với «sự nhiễu loạn» thông tin này để đạt được sự chau chuốt cho bức ảnh, là điều không thể. Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào cũng cần bỏ công sức cố gắng cho điều này.

Bù lại, tiếng ồn nhiếp ảnh cũng trao tặng một thứ dường như là phông nền cho hình ảnh chính, thêm và thêm vào đó một số lượng lớn các điều cụ thể nhỏ lẻ được mô tả cẩn thận, chính là nguyên nhân tạo ra cảm giác về tính tư liệu, tính thông tin đầy ắp của bức ảnh. Có thể nhìn ngắm nó chăm chú và nghiên cứu nó dài lâu như một văn bản.

Khối lượng của các điều cụ thể đưa ra khả năng, — bằng những con mắt khác — nhìn ra tất cả điều mà thông thường không được định hình bằng sự chú ý.

Vậy, tính dư thừa thông tin — một tính chất bẩm sinh nữa của nhiếp ảnh. Và cũng chính điều này là sự khác biệt cơ bản nhất của nó so với các hình ảnh nhân tạo được viết hay vẽ bởi con người.

Francisco de Goya đã nhận xét về vấn đề chi tiết thừa:

«Tôi không quan tâm đến sợi râu trong chòm râu của một người đi ngang qua, kể cả cái cúc trên áo lông của anh ta. Chiếc bút vẽ của tôi không được nhìn thấy nhiều hơn tôi» (24 - 68).

Hiển nhiên, ống kính máy ảnh nhìn thấy quá nhiều, nhưng điều này chỉ là yếu điểm hoàn toàn vượt qua được, vấn đề là sự hiểu biết và tài nghệ của nhiếp ảnh gia. Khi có sự chau chuốt, có sự bịt tiếng các trọng âm dư thừa, thì, có thể, dàn đồng ca của các chi tiết ngẫu nhiên cùng với số lượng khổng lồ của chúng sẽ không át đi những ca sỹ chính, và biết đâu đấy, — sẽ phụ hoạ cho họ.

 NHÌN BẰNG MỘT MẮT

Cách phối cảnh trung tâm trong hội hoạ hoàn toàn tương ứng với cái nhìn của ống kính nhiếp ảnh. Vậy thì nhiếp ảnh, cũng giống như hội hoạ, — đó là quan sát bằng một mắt, có nghĩa, trong một cấp độ cao của ước lệ, trong nhiều thứ không giống với những gì chúng ta nhìn thấy bằng hai mắt. Chẳng hạn, chỉ khi nhìn bằng một mắt mới có thể dùng ngón tay che kín được ngôi nhà ở nơi xa hay thậm chí mặt trăng trên bầu trời.

Một đứa trẻ con vẽ cái tủ. Và nhi đồng này đã đúng theo cách của mình, bởi vì không nhắm một mắt lại và không yên vị tại một chỗ, để vẽ nó đúng cách, mà hết bước qua qua phải rồi lại qua trái (hình. 386).


 TÍNH TRONG SUỐT

Nhờ có tính tư liệu chính xác của hình ảnh nhiếp ảnh, bề mặt của nó (giấy ảnh, màn hình iPhone) là trong suốt thật sự, chúng ta dường như nhìn xuyên thấu qua nó (như nhìn qua cửa sổ) và thay vì một hình ảnh phẳng chúng ta lại nhìn thấy đối tượng ảnh trong tất cả sự cụ thể nhỏ nhặt nhất.

Bukovel, Ukraine. Tháng 6/2017.

Hội hoạ và hơn nữa đồ hoạ, có ít tính trong suốt hơn. Trên bức tranh nhìn thấy rất rõ mặt vải vẽ được các lớp sơn dầu bao phủ.

Ảnh là trong suốt không phải đối bất kỳ ai, trẻ nhỏ và muông thú không nhận biết được các đối tượng trong ảnh. Sự trong suốt (nhìn xuyên thấu), rất có thể, được ước lệ bằng giáo dục và bằng kinh nghiệm văn hoá. Đó là ảo ảnh trong nhận thức của chúng ta, ảo ảnh về chiều thứ ba.

Chất lượng thu nhận hình ảnh (độ nét, xử lý các chi tiết siêu nhỏ, số lượng các bán sắc độ và vân vân) càng cao, chúng ta càng tìm thấy nhiều chi tiết thứ cấp trong hình ảnh. Vậy thì tính trong suốt được tăng cường cùng với chất lượng in (quét) và đạt cực đại trong ảnh màu, nếu như không muốn nói thêm đến các ống kính Asphe- của Leica, L của Canon và N của Nikon, vân vân.

Giấc mơ của nhiều người nghiện tính «trong suốt»

Nếu như hình ảnh kém chất lượng một cách phàm nghệ: nhoè, rung, các chi tiết siêu nhỏ bị loại bỏ hay không có các bán sắc độ (ảnh đồ hoạ), làm cho các hình thù và dấu hiệu trong ảnh bị mất đi tính trung thực về các đối tượng thực tế, — tính trong suốt biến mất.

Tính trong suốt của nhiếp ảnh (ảo ảnh toàn phần của không gian thực khi nhận thức ảnh) — tính cách chất lượng bẩm sinh của nó. Đó là khác biệt đầu tiên của nhiếp ảnh so với các bức tranh nhân tạo, nó gây nên cảm giác về tính tư liệu và tính trung thực.

 TÍNH ĐƠN THỜI

Một sự khác biệt quy cấu nữa của hình ảnh nhiếp ảnh so với các thể loại khác (nhân tạo, viết, vẽ) — tính đơn thời của nó. Tất cả những gì xảy ra trong mọi phần của nó, ở giữa, bên phải, bên trái (giống như toàn bộ đội hình bóng đá trên sân cỏ như tiền đạo, trung vệ, tiền vệ, hậu vệ và thủ thành) đều nhất định đứng hình vào đúng một và chỉ một thời điểm. Điều này đã cho phép V. Favorsky, vào thời của mình, nhắc đến nghịch lý tự nhiên hay thậm chí sự giả dối của nhiếp ảnh khiến cái nhìn trì trệ ngay tại chỗ.

Máy ảnh Smena8m - một lần nào đó đã mưu đồ phá vỡ tính đơn thời của nhiếp ảnh.

Trong nghệ thuật biểu hình, điều cấm kị này không bị loại trừ. Có thể xem lại bài ví dụ. Các chân sau của ngựa được thể hiện trong một pha chuyển động, còn các chân trước — trong một pha khác, tiếp theo. Và khi chúng ta đưa cái nhìn từ chân sau ra chân trước, trải qua khoảng thời gian ngắn ngủi này, pha chuyển động đã thay đổi, và thế là con ngựa bắt đầu chuyển động, như sống dậy. Xuất hiện điều kỳ diệu của hình ảnh đa thời điểm, của trộn lẫn hai pha chuyển động. Trong nhiếp ảnh, rất tiếc, điều tương tự là không thể, hoặc hầu như là không thể. Chính vì thế mà người ta vẫn yêu các máy phim có chế độ chồng hình * (Fm2 chẳng hạn, rất bền, rất hay, rất «Radio»!) để ghép hai ảnh vào làm một để tạo hiệu ứng «ngựa phi». Ngoài ra, ảo ảnh về chuyển động trong nhiếp ảnh thuần tuý có thể đạt được, nhưng bằng các phương tiện khác.

Hà Nội, mùa xuân 2017.

* Cần đánh dấu rằng, sự chồng hình ảnh bằng máy phim có một liên tưởng tâm lý học khác với việc ghép ảnh bằng photoshop. Nó vừa quy thuận tính đơn thời của nhiếp ảnh thuần tuý, vừa đưa vào tính trễ pha của thời gian. Chẳng hạn, nhiếp ảnh gia có thể đặt chân chống và chụp rất nhiều ảnh với cùng một góc nhìn của một góc phố, quảng trường, sân chơi... Sau đó anh ta ghép tất cả các hình ảnh này lại với nhau trong nhiều lớp tin của photoshop và bằng cách đó có thể xoá sạch người trong ảnh. Ở kết quả, nhiếp ảnh gia thông minh của chúng ta sẽ có một sản phẩm siêu phàm. Đó có phải là ảnh hay không? Nếu «Có» — thì đó là một bức ảnh «chết».

Mặc dù hình ảnh nhiếp ảnh là đơn thời, sự nhận thức nó lại là đa thời: mắt theo tuần tự sẽ đi qua tất cả các góc điểm của hình ảnh và đẻ ra ý nghĩa. Bằng cách đó, tính đơn thời không được nhận thức theo nghĩa đen.

 TÍNH NGẪU NHIÊN

Mắt người được cấu tạo như sau, nó có vùng nhìn nét rất hạn hẹp, vùng này tương ứng với góc nhìn chỉ 2-3 độ. Quy tắc này được bảo toàn khi ngắm nhìn hình ảnh trên tấm kính mờ của máy ảnh vào lúc chụp và dẫn tới, nhiếp ảnh gia trong khoảng khắc trách nhiệm nhất đơn giản là không có khả năng nhìn thấy, lấy ví dụ, biểu cảm khuôn mặt hay pha chuyển động của nhân vật bên phải bức ảnh và đồng thời — bên trái, anh ta nhìn thấy bên này hoặc bên kia. Tình trạng đó còn bị tăng cường lên rất nhiều khi chụp bằng máy ảnh kéo dài hình (panorama).

Bởi vậy, khi một nhiếp ảnh gia vĩ đại nói về một phần của một tờ giấy, khi «...cần đồng thời hiểu giá trị của sự kiện và tương tác giữa các mảng thị giác mà nó chuyển tải» (H. Cartier-Bresson. 49 - 13), điều này được nhận thức như những từ ngữ đẹp đẽ mà thôi. Nhiếp ảnh gia, trong khoảnh khắc cuối cùng, không nhìn thấy bức ảnh một cách tổng thể (và nếu như nhìn thấy, thì không phải bằng mắt) và thường là không phải lúc nào cũng trong trạng thái có thể đoán được điều gì sẽ có trên tấm phim.

Biết nói sao đây, — đó là một sự thật rất mất lòng. Suy ra rằng, trong đúng thời điểm đó, khi nhiếp ảnh gia nhất thiết phải nhìn thấy tất cả, những gì xảy ra trong nội biên của khung hình, theo dõi hàng chục các sự kiện siêu nhỏ, thì anh ta nằm ngoài khả năng làm được điều này. Nói một cách khác, những bức ảnh độc nhất và vĩ đại được sinh ra với một phần lớn của tính ngẫu nhiên. Có thể có điều đó không? Vâng, có thể, chính nó diễn ra theo cách đó.

Vào thời điểm tác nghiệp, nhiếp ảnh gia tập trung cao độ bằng tất cả khả năng và trực giác, theo nghĩa đen, anh ta làm việc bằng hệ thần thần kinh và bằng máu, nhưng cũng chính lúc đó hi vọng không những vào chính mình, mà còn vào cả sự may mắn. Trước khi phim được tráng hiện, nhiếp ảnh gia không biết, thứ anh ta kịp nhìn trong ống ngắm có tạo được ấn tượng gì trên phim hay không (cần nói thêm rằng, trong các máy ảnh gương lật, bản thân khoảnh khắc bấm máy không được nhìn thấy). Nhân vật trong hình có thể chớp mắt, người khác thì bỗng nhiên giơ tay hay giơ chân, vâng thiếu gì những thứ tương tự có thể xảy ra, một nghìn điều không ngờ. Ở đó, 999 cái trong số một nghìn đó sẽ làm hỏng ảnh hoàn toàn, còn một cái — được mong đợi nhất — làm cho nó đẹp lên trông thấy. Và tất cả hi vọng dành hết vào đó! Bởi vì khi đó trên mặt phim sẽ hiện lên một thứ đơn giản là không thể tưởng tượng trước được.


Không phải tự nhiên mà nhà văn hài hước George Bernard Shaw, là một người yêu ảnh, đã so sánh các nhiếp ảnh gia với loài cá tuyết, đẻ hàng triệu trứng, nhưng sống sót chỉ một vài đơn vị.

Tính ngẫu nhiên, như một phần tử tạo hình thức, không có ý nghĩa trong bất kỳ một nghệ thuật cổ điển nào, đó là tính chất đặc thù của nhiếp ảnh và chỉ của riêng nhiếp ảnh. Nhưng không cần phải tự ti về sự ngẫu nhiên, cần bắt nó làm việc cho ta.

Nhiếp ảnh gia cần một tài năng, một trực giác được mài dũa, biết cách nhìn trước, đoán trước. Bởi vì sự ngẫu nhiên — đó là điều bất ngờ không tránh khỏi. Và tính ngẫu nhiên giúp nhiếp ảnh gia này, người mà trong một ngày có thể đốt phim nhiều hơn một người yêu ảnh thông thường chụp trong một năm, đôi khi lên đến 20-30 cuộn. Vậy khi đó, thế nào là tuyệt kỹ, tại sao anh ta lại làm điều này? Không cần nói đến tuyệt tác, chỉ cần nói đến sự thành công tương đối, bao nhiêu bức ảnh được một nhiếp ảnh gia như thế chụp trong một ngày? Một-hai, nếu rất may mắn, và đôi khi — không một cái nào. Nhưng bù lại, một vài bức ảnh kỳ diệu sẽ lọt vào bộ sưu tập sau một năm tác nghiệp.

Cuối cùng thì, các tuyệt tác nhiếp ảnh được sinh ra trong sự ngẫu nhiên của dòng chảy tình huống cực lớn, trong số đó chỉ có điều sau đây là công thức chung — sự hiện diện của nhiếp ảnh gia vào thời điểm đó và ở chính chỗ đó.

 PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN

Trong hiệu lực của đặc thù nhiếp ảnh, nhiếp ảnh gia thường thấy nhất là sẽ đi con đường không phải từ tư duy đến kết quả, mà là ngược lại — từ kết quả đến tư duy, đánh giá và nhận định của anh ta. «Tôi chụp được cái gì thế này, — anh ta tự hỏi mình, — đẹp hay không đẹp? Và nó phát ngôn điều gì, nó có nghĩa là gì, khán giả của tôi sẽ thấy gì ở trong đó?»

Tình trạng này sẽ trở thành quyết định đối với ảnh kỹ thuật số, khi trong một giờ có thể làm ra hàng trăm bức ảnh một cách chơi bời.

Nhiếp ảnh gia lựa chọn hai lần: lần thứ nhất là khi chụp, lần thứ hai — sau đó, từ những tấm hình đã chụp. Và đây là trọng trách lớn nhất của anh ta. Nhiếp ảnh nhiều hơn phần nửa của tư duy và lựa chọn, còn một nhiếp ảnh gia giỏi — sẽ lớn hơn phần nửa của khẩu vị hoàn hảo.

Phân tích và lựa chọn — quá trình sáng tạo nhất trong công việc của nhiếp ảnh gia. Chính ở đây sẽ xuất hiện cá tính của anh ta khi nhân bản hoá hàng trăm và hàng nghìn hành động của những «định hình cơ học», chọn một tấm ảnh duy nhất. Và sản phẩm này — sự tiếp nối và thể hiện, những đứa con tinh thần của anh ta.

Nhưng khi đó nhiếp ảnh gia tiếp cận không phải với tạo hoá, mà với một thực tại mới — hình ảnh của nó trong tấm hình. Anh ta tìm tòi ý nghĩa không phải trong vật ảnh, mà trong hình ảnh, hai thứ hoàn toàn không phải là một. Các phương pháp tác động lên đối tượng vật ảnh là có giới hạn: ánh sáng, ống kính, lựa chọn góc chụp. Còn với hình ảnh có thể tác nghiệp theo cách khác, theo cách tiếp cận nghệ thủ. Có thể giảm thiểu hoặc tăng cường chiếc bóng này hay phần tối kia của nội dung, bằng cách thay đổi hình thức — xây dựng lại quan hệ sắc độ hoặc tuyến tính trong bức ảnh khi in, cắt cúp, hay sử dụng photoshop để can thiệp một cách lịch sự.

Hình ảnh nhiếp ảnh trong một số trường hợp riêng lẻ và «nghệ thuật», có nội dung lớn hơn rất nhiều so với vật ảnh, nó không chỉ mở ra ý nghĩa của sự kiện, mà còn thông dịch cho điều này.

Mặt khác, có biết bao nhiêu tấm ảnh tốt đang bay vào thùng rác chỉ vì một nguyên nhân đơn giản, đó là khi nhiếp ảnh gia đơn giản không đủ năng lực để đánh giá, anh ta đã làm được điều gì. Và điều này liên quan không chỉ với người bắt đầu chơi ảnh, mà còn với những nhiếp ảnh gia có kinh nghiệm. Lẽ đơn giản là, một tấm hình nào đó trong cuộn phim, hoá ra, thông minh hơn tác giả của nó rất nhiều. Và nhiếp ảnh gia lại chọn bức ảnh hàng xóm khác, thông thường hơn, nhìn giống hơn với thứ mà anh ta đã từng nhìn hoặc từng tự chụp. Vấn đề lựa chọn — chủ yếu nhất và khó nhất trong sáng tạo của nhiếp ảnh gia. Không phải ai cũng có khả năng làm điều đó.

Khẩu vị nghệ thuật cần cho nhiếp ảnh gia không chỉ trong lúc chụp, nó là nhất thiết hơn rất nhiều trong quá trình phân tích và lựa chọn chất liệu đã được chụp, đánh giá sự biểu cảm uyển chuyển của cả ý nghĩa thu nhận được. Rất khó và rất dài, quá trình này quả thực rất sáng tạo.

Đôi khi, đi chụp hàng trăm bức ảnh mới còn dễ hơn là hiểu điều gì đã có được trong chỉ một bức ảnh.

Đúng vậy, rất và rất phức tạp khi, — kiểm soát mù quáng, lướt qua ảnh in thử hoặc khi, hơn nữa, — ngắm phim qua thiết bị nhìn trước với kích thước 24x36 mm, — rồi xác định, điều gì đứng sau hình ảnh này, nó sẽ ra sao ở một bức in khác, và bức in khác đó phải thế nào. Nói một cách khác, cần nhìn thấy thứ không có, nhưng có thể có, nếu như có một cái gì đó cũng không có. Thường thì, đơn giản là không có bất kỳ một sự khác biệt thấy được nào trong bức ảnh đã chọn, và vấn đề sẽ được giải quyết bằng trực giác của nhiếp ảnh gia, kinh nghiệm và sự hiểu biết nhiệm vụ của anh ta.

Người có khả năng với quá trình sáng tạo như thế — một hoạ sỹ thực thụ, cùng với thái độ đã tích tụ của mình từ cuộc sống, cùng với sự hiểu biết sáng tỏ, anh ta muốn nói gì cho người khác, nhân danh điều gì mà anh ta chụp ảnh. Và khi nhiếp ảnh gia «mở ra» trên cuộn phim một bức ảnh nằm ngoài kế hoạch, anh ta cũng cần trở thành hoạ sỹ kể cả ở đây, để nhìn ra, nhận xét và tư duy nó. Để nhận về mình một trách nhiệm và nói: «Đây không phải là một bức ảnh ngẫu nhiên, đây cũng chính là sự thật của cuộc đời».

«Một bức ảnh vĩ đại cần triệt để thể hiện trong một tư duy sâu sắc nhất về điều nhiếp ảnh gia cảm nhận, không những về đối tượng ảnh, mà cả về cuộc đời trong tổng thể» (Ansel Adams, 54 - 17).

Ngoài ra, tất nhiên, cần thời gian, để quên đi những ấn tượng đã đồng hành trong lúc chụp, bằng cách đó nhìn lại bức ảnh theo giả lập khách quan. Tác phẩm đã hoàn thành và sống bằng cuộc đời của chính nó, cần nhìn nó bằng con mắt của người ngoài cuộc.

Cần cắt đứt sợi dây rốn giữa nhiếp ảnh gia và bức ảnh, ấn nút Delete để xoá tạm mọi hoài niệm (nhưng nhất thiết không bao giờ ấn Shift+Delete — xoá sạch).

Có thể khảng định: nhiếp ảnh gia vĩ đại chụp cũng nhiều như nhiếp ảnh gia vĩ trung bình, bù lại, người thứ nhất biết xoá ảnh theo cách vĩ đại.

Ở đây có vài câu hỏi mà mỗi nhiếp ảnh gia cần đặt ra cho chính mình, tại một thời điểm xác định trong quá trình phát triển của bản thân. Cái gì là tốt hơn — một bức ảnh vĩ đại hay một trăm bức ảnh «vĩ trung bình», đạt «tiêu chuẩn», mà ở chúng, như hay nói, «có một cái gì đó»? Cái gì là đúng — xử lý (cố gắng hoàn thiện) một bức ảnh hay dành thời gian này (hàng năm trời lao động) để chụp hàng trăm hay hàng chục sản phẩm ảnh «đạt tiêu chuẩn», nhưng chưa hoàn thiện, chưa đóng gói, như những bán thành phẩm? Điều gì là thứ ở lại sau lưng một nhiếp ảnh gia biết tự trọng, người ta sẽ nhớ bao nhiêu bức ảnh của anh ta?

Câu hỏi có nhiều, câu trả lời thì mỗi người cầm máy tự tìm thấy cho mình. Trong mọi hoàn cảnh, có thể phát ngôn một điều: biết cách đi đến tận cùng — là năng lực không phải của nhiều người. Và trước hết, đó là lao động rất vất vả và hao tổn năng lượng khó lường.

Có vẻ thấy, những tính chất bẩm sinh của nhiếp ảnh, như, tính tư liệu, tính liệt kê hay, hơn nữa, tính ngẫu nhiên, loại bỏ khỏi nó quyền được gọi là một nghệ thuật xác thực. Tất nhiên, không phải như thế, trong thế gian này có đủ ảnh để làm chấn động chúng ta không những bằng thông tin, mà còn bằng nội dung sâu sắc, bằng sự hoàn thiện của hình thức nghệ thuật.

Cái đặc sắc của nhiếp ảnh được gói gọn trong ý nghĩa sau: nó luôn luôn là sự hợp tác giữa hoạ sỹ và thiên nhiên, đó luôn luôn là trò chơi dành cho hai người.

Bản thân thực tại, — ngẫu nhiên tạo ra những khoảnh khắc chân mỹ nào đó, — điều này nhiều bao nhiêu, — thì bức ảnh cũng sẽ có thể trở thành nghệ thuật đích thực bấy nhiêu. Vai trò của nhiếp ảnh gia — cảm nhận được khoảnh khắc đó, tư duy về nó và thể hiện trên chất liệu.

 Để chốt lại, chúng ta cùng liệt kê một lần nữa những nét đặc thù cơ bản của nhiếp ảnh.

Sự tự động hóa của quá trình nhiếp ảnh không thay thế được cho những cố gắng sáng tạo của nhiếp ảnh gia, người đi chọn mô-típ, cắt một góc xác định từ thực tại, thổi hồn cho những thông điệp thị giác bằng cách sử dụng bố cục.

Cái nhìn bằng một mắt của ống kính, tất nhiên, thay đổi khá cơ bản tính uyển chuyển của thực tại được nhìn thấy, bù lại, nó cung cấp cho nhiếp ảnh gia những khả năng biểu cảm đặc biệt, — ví dụ, hòa quyện chính xác các chi tiết của tiền cảnh và hậu cảnh (giọt nước trên kính nhỏ xuống bầu trời, một người đứng trên lòng bàn tay phình to của người khác...) .

Tính phẳng và tính tĩnh của hình ảnh nhiếp ảnh, khung ngắm trong máy và khung ảnh trên tường đưa ra cơ sở để nói về khả năng của một bức ảnh tranh với độ toàn vẹn và hoàn thiện của nó. Nhận thức ảnh, tranh vẽ hay đồ hoạ có nhiều điểm chung. Chẳng hạn, ảo ảnh chiều thứ ba, dù, tất nhiên, ảo ảnh này trong nhiếp ảnh mạnh hơn rất nhiều nhờ tính trong suốt và tính không ngắt quãng (liên tục) của thông tin (bức ảnh, khác với bức tranh, có thể xem kỹ qua kính lúp và tìm ra những điều cụ thể và các chi tiết siêu nhỏ luôn và luôn luôn mới mẻ).

Tính dư thừa thông tin, tính kê khai của hình ảnh nhiếp ảnh có thể khắc phục, nếu nhiếp ảnh gia cố gắng chau chuốt. Hoặc là, ngược lại, được sử dụng để tăng cường tính tư liệu.

Tính tư liệu — món quà vô giá của nhiếp ảnh. Cuối cùng thì, thứ được thể hiện trong bức ảnh không phải là thứ nhiếp ảnh gia nghĩ ra, mà là thứ một lần nào đó đã xảy ra trong đời, và anh ta đã chỉ nhìn thấy, tư duy và kịp ấn tượng hoá bằng cách có mặt ở chỗ đó vào đúng lúc đó. Chúng ta nhận thức bức ảnh đúng bằng cách đó — như một bằng chứng.

Nhưng tính tư liệu không phản đối khởi điểm tác quyền của nhiếp ảnh cũng như sự thể hiện nó một cách nhân bản. Người này phát hiện ra một điều gì đó nực cười hoặc khôi hài, người kia — chất triết, còn nhà thơ — chất thơ, mỗi người thấy cái của riêng mình, và mỗi người sẽ chỉ ra cái «tôi» to tướng. Thấy ngay, khi trong tâm hồn nhiếp ảnh gia là trống rỗng và anh ta chẳng biết nói gì. Và đôi khi nhiếp ảnh gia bắt đầu láu cá, chối bỏ trách nhiệm: «Tôi chỉ là cái gương, tôi ánh xạ, nhưng không phải là dịch giả».

Tính thời điểm của nhiếp ảnh đã dạy cho chúng ta nhìn và đánh giá sự biểu cảm của khoảnh khắc.

O. Rodin đã nhận xét:

«Hoạ sỹ nói thật, còn nhiếp ảnh gia nói dối, bởi vì trong thực tế, thời gian chưa bao giờ dừng lại» (28 - 613).

Lại nhớ đến hình ảnh nhiếp ảnh trong thời kỳ đầu của lịch sử nhiếp ảnh. Nhưng cùng với thời gian, điểm yếu này của nó đã biến đổi thành một trong những ưu điểm lớn nhất. Thời gian đã học được cách biết dừng lại.

Và có thể là, phương tiện biểu cảm mạnh mẽ nhất trong nhiếp ảnh chính là sự dừng lại của thời gian. Chỉ có đúng một tính chất đặc sắc này của nó đang đặc biệt mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về thế giới, cả theo nghĩa khoa học, cả theo nghĩa thẩm mỹ. Sức mạnh vĩ đại của nhiếp ảnh là ở chỗ, nó có khả năng, không giống bất kỳ thứ gì khác, chỉ ra điều mà mắt không thể nhìn thấy (vô hình theo nghĩa đen — những pha chuyển động nhanh, bước phi của chân ngựa; hay vô hình theo tâm lý — đường viền của các vật thể xung quanh, đám cỏ, áng mây, những thứ đơn giản nhất mà chúng ta «thấy», nhưng không bao giờ nhìn kỹ một cách cụ thể, ngoại trừ trẻ con). Và chỉ có nhiếp ảnh mới cho chúng ta khả năng thị giác cụ thể hoá.

Tính đơn thời của hình ảnh nhiếp ảnh, theo nghĩa đen, không cảm thấy được, nhận thức về hình ảnh này là khá lâu. Hơn nữa, chúng ta thường tư duy tưởng tượng một sự kiện trong phát triển, khoảnh khắc trước và sau đó.

Tính ngẫu nhiên của hình ảnh nhiếp ảnh có giá trị đặc sắc của mình. Một bức ảnh có một không hai, có giá trị vô giá bởi một chân lý, về nguyên tắc là không thể lặp lại. Nhiếp ảnh gia thống trị sự ngẫu nhiên, bắt nó phải làm việc cho mình. Tính đặc thù trong công việc sáng tạo của nhiếp ảnh gia — hàng trăm hay hàng nghìn bức ảnh là để hướng tới đúng một tấm — trong kết quả, tặng cho chúng ta những sản phẩm vĩ đại.

Khoảnh khắc chụp — không phải là điểm thắt nút trong công việc của nhiếp ảnh gia và không phải là điểm cực đại cuối cùng của hoạt động sáng tạo. Sau đó, sự phân tích và lựa chọn chất liệu sẽ đưa ra những khả năng không bến bờ cho sự sáng tạo đích thực, lấp đầy một văn bản bằng nội dung nhân bản.

Sự vĩ đại của nhiếp ảnh được gói gọn ở chỗ, nó là bằng chứng tư liệu về sự tồn tại của cuộc sống trong một đống hỗn tạp của các khoảnh khắc đặc sắc. Như một nghệ thuật đã được xác thực, nó cho chúng ta thẩm sâu vào ý nghĩa của điều đang xảy ra.

Đặc thù của nhiếp ảnh là như thế. Có thể đi theo nó, sử dụng những khả năng đặc sắc của nó. Và cũng có thể chiến đấu với nó, vẽ sơn dầu lên ảnh, bằng cách «dán» các đống và đám lại với nhau trên màn hình photoshop, bằng cách đạo diễn ảnh phóng sự, hay bằng một cách nào đó khác, những thứ mà — cần nhấn mạnh — càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Ở tận cùng của bản chất, đó chỉ là vấn đề khẩu vị.

Hà Nội, mùa hè 2017.

Nhiếp ảnh như một mê cung, luôn luôn lừa người cầm máy cũng như khán giả của anh ta, bởi vì mọi đường thẳng hướng tới sắc màu của ánh sáng, — đều là ngõ cụt. Chỉ một lần lạc lối, sẽ rất khó để quay lại, thậm chí, không bao giờ có thể làm lại. Luẩn quẩn đi tìm điểm sáng của đam mê, nhiếp ảnh gia có đủ thời gian hay không, hay lại quay về điểm xuất phát của một tờ giấy trắng? Điều đó không quan trọng. Liên tục đi tìm cái đẹp — đó cũng chính là cái đẹp.

MiukaFoto — Việt ngữ ngẫm — theo ý tưởng của Lapin.

27 Nov 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!


Các bài liên quan:


Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!