Từ cổ chí kim chưa từng có tiền lệ về một người có khả năng sáng tạo trước khi anh ta được học về nghệ thuật. Thiếu sự bất ngờ khách quan, một trò chơi chủ quan sẽ biến tướng thành một trò hề nhạt nhẽo, thứ không gây ngạc nhiên và không thể gây ngạc nhiên. Thủ pháp khác với thủ đoạn ở chỗ, cái thứ hai có thể bị vạch trần, còn cái thứ nhất thì không. Nghệ sỹ, ai cũng muốn làm nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật là cái quái gì? Chỉ cần đúng ba từ thôi: «gây ngạc nhiên», nhưng cần thêm vào hai chữ nữa — «vô thức». Nhưng trước khi gây ngạc nhiên trong vô thức, nghệ sỹ phải biết tự ngạc nhiên có ý thức.
MiukaFoto 
(born in 1972)

FOTOGRAFIYA KAK... ALEKSANDR LAPIN.

Kharkiv, Ukraine, 2010. Tôi, như thường lệ, lang thang vào hiệu sách. Tôi hay quan tâm đến các ấn phẩm tin học, điện toán, có nghĩa, những thứ chính xác và khô khan. Khi đó, tôi đã sở hữu một chiếc máy ảnh vượt trội về công nghệ vào thời đó — Canon EOS 5D mark II. Tôi sướng lắm, bởi vì chụp cái gì cũng biến thành một thứ khác, ảo diệu, khác xa với đời thường của thị giác. Nhưng được một thời gian, như một đứa trẻ lạc lõng bước những bước đầu tiên vào cuộc đời yêu ảnh, tôi không biết chụp gì nữa, có nghĩa, không biết phải nhìn như thế nào. Thật may mắn, tôi tìm được quyển sách này. Xin giới thiệu tới bạn ảnh gần xa lời tựa của nó, năm mươi ba khổ chữ, — mà suốt bẩy năm tôi chưa bao giờ đọc hết — do — toàn bị ngủ gật giữa chừng. Xin nghiêng mình cảm tạ tới tác giả Aleksandr Lapin — nhiếp ảnh gia, nhà giáo, nhà nghiên cứu nghệ thuật, một tượng đài kiến thức của đời tôi. Con xin gửi tới Thầy một khoảnh khắc hoài nhớ nghiêm trang, dù chưa một lần gặp Thầy ở cõi đời tạm tận. Thưa thầy, chiếc 5D2 con đã bán rồi!



Kính tặng người Mẹ của tôi, Anna Arkadievna, người đã nói, rằng nhiếp ảnh gia — đó không phải là một nghề. Và quả nhiên, đó không phải là một nghề, mà là một trạng thái.

Tác giả tự báo cáo với mình, rằng để học được bố cục (cũng giống như mọi bộ môn nghệ thuật) dường như là không thể nào.

Vậy thì tất cả hy vọng đều đặt vào hai chữ «dường như».

Người biết viết — đó chưa hẳn là văn sỹ. Cũng chính xác như vậy, người biết chụp ảnh — chưa hẳn là nhiếp ảnh gia.

Có những người, cảm giác về bố cục được cài đặt sẵn trong bản năng, nhưng họ không hề biết về điều này, đơn giản là không có ai giải thích cho họ biết cần phải như nào, cái gì là bố cục.

Còn điều gì liên quan đến những người còn lại, họ lại càng cần đòi hỏi sự giải thích. Chỉ có điều, không được đơn giản hoá vấn đề, cũng giống hệt như quá thường xuyên bật miệng nói từ «hình ảnh» hay «nội dung tâm linh». Sẽ không nhận được gì, nếu như nhìn nhận tác phẩm, nói như sau, từ xa xôi. Chẳng hạn, nói, rằng những dữ kiện bố cục căn bản là sự tương đồng và tương phản, — vẫn chưa đủ, nếu không tìm thấy những tương đồng và tương phản trong mỗi ví dụ và không cho thấy lý do chúng là cần thiết cho điều gì.

Cần tiếp cận đối tượng nghiên cứu và nắm bắt nó vào trong lòng bàn tay. Rất hữu ích — mổ xẻ và xem xét các bố cục của hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn bức ảnh. Vậy để làm được điều đó cần hai điều kiện. Thứ nhất: những ví dụ này — không đơn thuần là những cú chụp có bố cục bắt mắt, mà phải là những tác phẩm xuất sắc (bằng không, bố cục để làm gì?). Và thứ hai: phân tích một cách khách quan nhất. Những hoài niệm kiểu như «bà tôi đã có một cái ghế như thế, giống như trong ảnh» ở đây không dùng được, đặc biệt là đối với những ai đã từng có bà, nhưng chưa bao giờ có ghế.

Bàn luận về nhiếp ảnh nhìn chung là dễ chịu. Chủ đề của câu chuyện này đa phương đến mức, có thể nói về bất kỳ điều gì, — mọi ngẫu ý đều trở thành thông thái và sâu sắc.

Sẽ khó hơn rất nhiều để phát ngôn khôn khéo về một bức ảnh, nếu như, tất nhiên, chỉ nói về nó và chỉ liên quan tới nó. Có nghĩa, chỉ về những gì thực sự tồn tại trên giấy ảnh, chứ không phải trong ý thức của người nói. Để làm được điều này, cần nhìn nhận, không phải cái gì đang được thể hiện trong ảnh, mà là, điều đó được thể hiện như thế nào. Nếu như bức ảnh đang được xem xét có liên quan tới bố cục, cách nói chủ đạo sẽ xoay quanh bố cục cụ thể này và không về điều gì khác nữa. Những câu nhận xét, đại loại như «trong bức ảnh này tác giả đã vận dụng những phương tiện biểu cảm thị giác sau đây: ánh sáng, phối cảnh và nhấn mạnh chủ thể bằng độ nét» — có thái độ trước nhiếp ảnh như các dữ liệu kê khai về một con người sống.

Như vậy, hiểu được mức độ trọng trách của mình, tác giả tiến tới trình bày quan điểm riêng, nâng niu trên tay hai chữ «dường như» từ câu nói đầu tiên, để không làm rơi vỡ chúng trên đường đi.

Vấn đề cơ bản của nhiếp ảnh là ở chỗ, có quá nhiều ảnh, đơn giản là nhiều đến mức quái vật. Sẽ ra sao nếu tất cả dân số của hành tinh này vẽ tranh sơn dầu hay sáng tác thơ ca? Có thể tìm ra trong đại dương mênh mông này vài giọt nước ngọt đích thực hay không, và có ai đủ sức làm?

Trong ngôn ngữ không có đủ các định nghĩa. Tất cả những gì được thể hiện trên giấy, — tấm ảnh hộ chiếu hay kiệt tác trong viện bảo tàng, tất cả chỉ là — ảnh. Văn học, chẳng hạn, được chia ra hàng chục thể loại. Trong nhiếp ảnh, không có sự chia nhỏ đó, ngoài hai thứ đã già cỗi: ảnh tư liệu — ảnh nghệ thuật.

Chúng ta sẽ xuất phát từ luận điểm, rằng ngay cả nhiếp ảnh cũng có quá nhiều hướng khác nhau, mỗi người đều có nhiệm vụ riêng, những phương tiện biểu cảm cá nhân và sự đặc sắc của mình.

Trong cuối thế kỷ thứ XIX nền công nghiệp đã cho ra đời những máy móc và phụ kiện nhiếp ảnh. «Trong kết quả đó đã xuất hiện những "vui ảnh gia" với một tình yêu đơn phương với các thiết bị chụp ảnh, — giáo sư ảnh, nhà thiết kế Gans Putnis viết, — từ quan điểm của nghệ thuật nhiếp ảnh, đã ghi nhận được một thảm hoạ, mà chỉ tới ngày hôm nay chúng ta mới bị rơi vào trong địa ngục của nó». Và còn nữa: «Chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại, khi có ai đó đã có thể sáng tạo ra nghệ thuật nếu không được giáo dưỡng về tuyệt kỹ» (37 - 22).

Nhưng, xin được phép hỏi, điều gì đang đợi chúng ta ở thế kỷ thứ XXI, nếu ngày nay hầu như mỗi người đều có thể với lấy một chiếc máy ảnh tự động và chụp được ngay? «Bạn chỉ cần ấn nút, — hãng "Kodak" hứa hẹn, — chúng tôi sẽ làm tất cả những gì còn lại». Và ở đây, các LAB sẽ in ảnh cho anh ta, cho bất kỳ ai, trông giống như thật một cách chính xác. Vâng, vậy anh ta khác gì so với một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, người cũng chụp bằng chính chiếc máy ảnh đó và cũng mang phim đến chính LAB đó?

Người ta bắt đầu ngừng lại việc mời các nhiếp ảnh gia giỏi tới các buổi lễ trọng thể của gia đình hay các đám tang. Từ giờ, họ sẽ tự viết lên biên niên sử của đời mình.

Nếu như trước kia học nhiếp ảnh phải mất nhiều năm, thì hôm nay từ ba công đoạn bắt buộc của nhiếp ảnh — chụp, xử lý phim, in ảnh, chỉ còn lại một. Thậm chí các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp cũng ưu tiên tráng phim và in ảnh ở LAB, hơn nữa, hầu như họ chụp bằng phim màu là chính.

Ở đây, thời của những «người biết chụp», rất có thể, đã hết, ngày nay tất cả đều biết chụp, bởi vì bản thân cái máy đã «biết» chụp. Số lượng các nhiếp ảnh gia đích thực, lẽ dĩ nhiên, không nhiều lên và không thể nhiều lên, ngược lại số lượng các tay máy làng nhàng, bán chuyên, — tăng vọt một cách bất thường. Họ, cùng với những chiếc máy ảnh «thông minh» của mình, nhận bất cứ một đơn đặt hàng nào, tương ứng, chất lượng ảnh từ các nhà xuất bản thường kỳ và các triển lãm bị tụt xuống tới mức làng nhàng và thấp hơn nữa.

Nhưng khi đó, ai sẽ là nhiếp ảnh gia đích thực, anh ta biết gì, thứ người khác không thể làm được? Và một câu hỏi phức tạp hơn nữa: tài năng của nhiếp ảnh gia là gì, cái đó sẽ được thể hiện ở đâu?

Có thể đề xuất một bộ ba mới mẻ: biết vận hành máy ảnh bằng tâm tưởng, biết nhìn và biết tư duy hình ảnh bằng thị giác. Ở đó, điều kiện đầu tiên —không phải bất kỳ điều gì khác, — mà chính là cần thông minh hơn máy ảnh của mình. Hoặc có thể khác: biết đánh dấu, biết hiểu và biết xây dựng.

Vâng, bản thân nhiếp ảnh, cùng với sự xuất hiện của những chiếc máy ảnh thế hệ mới, công nghệ mới, số hoá và vi mạch, — không cần bất cứ điều kiện nào, — cũng sẽ thay đổi.

Sự phát triển của công nghệ ảnh chắc chắn sẽ dẫn đến hệ luỵ, khi máy ảnh trở thành vô thanh và vô hình. Trên áo vest hay áo khoác sẽ xuất hiên cả chiếc cúc máy ảnh, thứ sẽ chụp được tất cả những gì nó muốn, chỉ cần chớp mắt hoặc lắc vai. Thật là đáng sợ khi sống trong thế giới điên khùng này, nơi tất cả sẽ đi chụp lén tất cả, nhưng không ai có thể phát hiện ra, nơi mà không thể chạy trốn khỏi những con ngươi đang theo dõi ở mọi nơi, tháo bỏ mặt nạ ra khỏi mặt và được là chính mình.

Ngày nay người ta đôi khi phản ứng tiêu cực khi họ bị chụp, ở nhiều quốc gia cá nhân có quyền cấm «chụp» hình ảnh của họ, không ai có quyền động chạm vào đời tư của họ khi chưa được phép. Và tính đến thời điểm này (thời điểm Lapin viết di chúc — MiukaFoto), máy ảnh vẫn có kích thước và lộ âm thanh.

Điều có giá trị là thứ mà một người chơi ảnh thuần tuý «cho vui», — không thể nào làm được — dù có máy móc tinh vi đến đâu. Tất cả các thứ còn lại — chỉ là những hiện tượng hiếm hoi của tạo hoá, những sự kiện ăn may không được báo trước, lĩnh vực này sẽ trở thành một phần của chính nhiếp ảnh «vui chơi». Ở đây chiến thắng sẽ thuộc về những người chơi ảnh «vui vẻ» nhờ có một số lượng khổng lồ. Cần nghĩ rằng, những bức ảnh đầu tiên chụp được những người ngoài hành tinh, — có tác giả chính là những «vui ảnh gia».

Sự dễ tiếp cận và sự tương đối đơn giản trong thao tác các hình ảnh trên máy tính, ở tận cùng của kết quả, có thể giết chết nhiều thể loại nhiếp ảnh.

Đầu tiên — đó là những bức ảnh vui cợt hay những câu chuyện kể bằng ảnh, sự méo mó hay xuyên tạc đủ các thể loại, có thể dễ dàng tạo ra với phương tiện máy tính.

Tiếp theo — những bức ảnh trùng hợp. Ví dụ, đã từng có một cú chụp — ăn may đến khó tin trong phóng sự: cây cầu, tàu hoả đi qua, dưới cầu — ô tô, còn trên cầu — máy bay. Vâng, ngày hôm nay một bức ảnh như thế sẽ không gây ngạc nhiên cho bất kỳ ai, bởi vì có thể thêm vào phía dưới một cong sông, trong dòng chảy của nó có một tầu ngầm, và, trong cửa sổ con tầu đó, tất nhiên, là chính tác giả của hậu kỳ.

Ảnh chỉnh sửa, dĩ nhiên, hoàn toàn chuyển qua câu chuyện về khả năng ảo diệu của máy tính. Thế kỷ vàng của chỉnh sửa ảnh đã kết thúc, dù luôn luôn có một hoài nghi, đó có phải là nhiếp ảnh hay không, ảnh chỉnh sửa cũng có đỉnh cao và tượng đài titan của mình.

Trong những khả năng phù phép hình ảnh của máy tính, thực ra, không có gì mới mẻ. Thực tế tất cả những điều đó đều có thể làm theo phong cách nhiếp ảnh thuần tuý: che đậy khi in, biến đổi và cắt dán quang học, hoà tan (tạo đường viền), dồn cực (phân chia hình ảnh thành 3-4 tông), giả lập nguồn sáng, v.v..., nói đúng ra, học được cơ bản về các kỹ thuật này cũng phải mất vài năm.

Một vấn đề nữa — sự ăn sẵn của phương pháp. Tất nhiên, hình ảnh hậu kỳ bằng máy tính, với những đỉnh cao của Edward Hartwig (Ba Lan), hoặc những tác phẩm của «hậu ảnh gia» người Mỹ Jerry Ulsman, hoặc các chỉnh sửa vượt trội của Vitas Lutskus (Litva), dựa trên sự kết hợp của nhiếp ảnh truyền thống và hiện đại, sẽ không có nữa. Ngược lại, những kiệt tác hiếm hoi được tạo ra bởi những nhà thiết kế tài năng, nhất định sẽ chết đuối trong một đại dương của các thủ đoạn rẻ tiền.

Kéo theo đó, sẽ là sự thay đổi đến tận gốc rễ trong nhìn nhận về ảnh sắp đặt — chân dung, tĩnh vật. Hình ảnh chụp bằng máy số được chuyển ra màn hình trong dạng đã sẵn sàng. Sẽ không có nữa — những món quà bất ngờ và hồi hộp trên những tấm phim.

Nhiếp ảnh truyền thống được nhìn nhận như một trò chơi, một quá trình nào đó có kết quả trễ pha. Địa điểm chụp và điều kiện chụp được xác định trước, sau đó chúng ta bước qua một trong những ngưỡng cửa của cảm xúc — bấm máy. Nhưng trong kết quả không có điều gì hiện hữu: có thể sẽ không nhận được bất cứ bức ảnh nào cả (thua cuộc); có thể sinh ra một bức ảnh như mong đợi (thắng cuộc); nhưng trong một số trường hợp hi hữu có thể sẽ xuất hiện một thứ đã không được nhìn thấy trước và vượt qua cả sự mong đợi (thắng to). Phim còn phải tráng rửa, sấy khô, sau đó in ảnh (bây giờ chúng ta hay scan thay vì in ảnh — MiukaFoto).

Và trong dòng chảy của tất cả quá trình này, nhiếp ảnh gia được trải nghiệm cả một chuỗi cảm giác của một con bạc: chờ đợi, thấp thỏm, lo âu, vỡ oà. Tiếp theo, điều đó lại được tái diễn trong quá trình in ảnh (quá trình chờ Email báo có thư gửi từ LAB — MiukaFoto).

Trong ống ngắm của máy ảnh rangefinder (ông tổ của loại máy ảnh này là Kodak, Leica) chúng ta không nhìn thấy kết quả hình ảnh phẳng cuối cùng, mà chỉ thấy chính đối tượng ảnh, và không thể biết chính xác, điều gì sẽ nhận được trên tấm phim trong sự phụ thuộc vào khẩu độ (độ sâu trường ảnh) và tốc độ (nét, nhoè). Trò chơi vẫn tiếp diễn.

Trong máy ảnh gương lật, có vẻ như, chúng ta nhìn thấy hình ảnh trên một tấm kính mờ, đó cũng chính là tấm ảnh của tương lai. Tuy nhiên khẩu độ mở rộng trong quá trình lấy nét khiến chúng ta không thể nhìn thấy trước bản thân khoảng khắc bấm máy, và, hiệu ứng tốc độ chậm một lần nữa không cho phép chúng ta dự đoán trước kết quả, nó có thể là bất ngờ, và lại là một yếu tố của cuộc chơi. Trong ảnh số, tất cả những điều này diễn ra theo cách khác, kết quả xuất hiện ngay trên màn hình (hoặc gần như ngay lập tức, vấn đề này sẽ được giải quyết), bất kỳ sự thay đổi nào của màu sắc, ánh sáng, bố cục ảnh, sẽ được quy kết không chậm trễ. Tất cả được giải quyết trong một thời điểm và sẽ không có món quà bất ngờ. Yếu tố của cuộc chơi giảm đi đáng kể (ngoại trừ ảnh phóng sự, khi không có lúc nào để nhìn ngay lên màn hình).

Song song với điều đó, «ảnh số» không những hỗ trợ cho công việc của phóng viên, mà còn phá huỷ sự sáng tạo trong một chừng mực nhất định. Bởi vì nhiếp ảnh gia, khi làm việc với máy số, không mất thời gian để thay phim, anh ta hầu như không còn bị hạn chế bởi số lượng ảnh chụp cho sự kiện. Và giờ đây, anh ta mang về từ buổi chụp không phải một-hai cuộn phim như trước kia, mà là vài trăm tấm, hơn nữa, có thể chụp như súng liên thanh bằng cách ấn giữ liên tục nút bấm.

Phóng viên đặt cược, hi vọng vào, — không phải sự hiểu biết và kỹ nghệ của mình, — mà vào quá trình sau đó — từ hàng trăm tấm ảnh, sẽ có thể chọn ra vài tấm cần thiết. Nhưng khi đó không nhất thiết phải đợi khoảnh khắc biểu cảm, nghĩ về cao trào hay tìm chi tiết tư duy, mất thời gian cho việc này.

Có vẻ như, giấc mơ của nhiều thế hệ nhiếp ảnh gia cận hiện đại đã trở thành sự thật: «Nếu như tôi có một chiếc máy quay phim thật khủng, tôi sẽ chọn ra từ đó những kiệt tác. Hãy bảo trọng, Bresson!».

Nhưng vấn đề không ở chỗ, khoảnh khắc cần thiết hoàn toàn nằm giữa hai tấm hình của thước phim điện ảnh. Vấn đề nằm ở chỗ khác — trong chính nền tảng công việc của nhiếp ảnh gia. Thiếu đi những áp lực đặc biệt trong lúc quay chụp, khi mà nhiếp ảnh gia cần nhìn thấy và nhận ra tất cả, lo lắng hồi hộp trong diễn biến của sự kiện bằng tất cả hệ thần kinh của mình, và cũng trong lúc đó, sẵn sàng hoá thân vào bất kỳ thời điểm nào của cuộc chơi, ở đây, phản ứng nhạy bén, bằng cách sử dụng tất cả các phương tiện biểu cảm, — thiếu đi những áp lực thần thánh này, thứ mà những cao thủ nhiếp ảnh phải trải qua trong lúc chụp, thì, những bức ảnh thực thụ, có một không hai — đừng bao giờ mơ tưởng!

Sẽ là không ngờ (trò chơi mà!), sẽ là hé lộ, — những bức ảnh mạc khải (động thái ngẫu nhiên hoặc biểu cảm khuôn mặt không tự nguyện của nhân vật), nhưng có tính chịu đựng, — được sinh ta không phải bằng số lượng các cú chụp, mà bằng tuyệt kỹ của nhiếp ảnh gia, bằng sức mạnh của anh ta trong sự xuất hiện tư duy trong diễn biến, trong tận cùng của bản chất, bằng hao tổn thần kinh cũng như chi phí năng lượng, — những bức ảnh như thế sẽ không bao giờ có, hoặc sẽ có, — nhưng ít đi rất nhiều.

Từ chối tiến bộ là một điều vô lý. Thôi, thì đành... Chúng ta sẽ không hoài niệm về một thời vàng son, khi hoạ sỹ phải tự mình mài mực và chuẩn bị vải vẽ. Hay, khi việc này được giao cho một cậu học trò, người mà trong nhều năm không được phép vẽ bất kỳ cái gì, ngoài cánh chim bồ câu. Hay khi nhiếp ảnh gia tự tráng nhũ tương cho các tấm phim, và sau đó nhìn hình ảnh đảo ngược trên kính mờ của máy ảnh gấp hộp.

Thời đó đã đi qua. Rất có thể, những giai đoạn đó là cổ hủ và sai lầm, nhưng rất kỳ quặc, biết bao nhiêu bức tranh hay ảnh phẩm vĩ đại đã được sáng tạo ra chính vào thời đó.

À đấy, cách đây hoàn toàn chưa lâu, nhiếp ảnh gia còn tự mình tráng phim và phóng ảnh, thậm chí, đối với nhiều người, việc phóng ảnh còn thiếu chút nữa đã là công đoạn chủ yếu của quá trình sáng tạo.

Nhiếp ảnh thiếu sự phóng in ảnh một cách tác quyền — dù gì đi nữa, cũng như một thứ âm nhạc không được thể hiện. Âm bản — đó mới chỉ là nốt nhạc, còn sáng tạo trong lúc in — thông ngôn của người thao tác, thường, thậm chí, không là chính tác giả, mà là chuyên gia in phóng.

Xử lý file hậu kỳ sau khi chụp — nó cũng giống như việc in ảnh tưởng tượng, nhưng có những thứ trước đây không thể làm được trong việc phóng ảnh truyền thống (xoá cây hoặc xoá người), bây giờ rất dễ dàng và không khó để tiếp cận. Vậy có nghĩa, khả năng có nhiều hơn, cám dỗ đầy rẫy hơn, và suy ra, nhiều tội lỗi hơn, nếu như «tội lỗi» được hiểu là sự bịa đặt không lành mạnh trong những bức ảnh của kết quả.

Vấn đề không ở chỗ có cần phải học photoshop hay lightroom đến mức chuyên nghiệp hay không. Nếu cực chẳng đã, có thể nhờ gọi sự trợ giúp của một chuyên gia trong lĩnh vực này. Vấn đề nằm ở chỗ khác — học nhìn. Đầu tiên học nhìn trong lúc chụp, và sau đó — sẽ nhìn ra, sẽ đánh giá kết quả khi in. Nhưng nhìn cái gì đây? Không phải hình ảnh phân bố khắp tờ giấy ảnh, mà là tư duy của sự kiện hay tình huống đã được ấn tượng hoá, còn bản thân hình ảnh, ở đây cần nhìn một cách tổng thể, có nghĩa, bằng cách quên đi thời gian của chính tình huống hay sự kiện. Và điều này không tầm thường hơn chính nghệ thuật, đối với nhiều người thậm chí còn là khó hơn việc biết tìm ra trong thực tế một điều thú vị, phi thường và đẹp đẽ.

À há, và một người chưa bao giờ nhìn thấy hình ảnh hiện lên trên giấy ảnh ngâm trong thuốc hiện, — kiểu gì vẫn chưa thể là nhiếp ảnh gia, chỉ là bấm ảnh gia.

Điều gì liên quan đến ảnh phóng sự, trường hợp riêng là ảnh phóng sự báo chí, thì nó, để chiến thắng trong cuộc đua với những phương tiện mới của truyền thông điện tử, có một cơ hội duy nhất — trở thành chứa đựng hơn, nội dung hơn, chính xác hơn và, không cần phải bàn cãi, hình ảnh hoá hơn. Ít nhất, tốt nhất là hôm nay nên tin vào điều đó, hơn là ngồi đợi ngày tận thế của ánh sáng nhiếp ảnh. Truyền thông điện tử đưa ra những tin nóng hổi trong thời gian thật, còn nhiếp ảnh định hình tất cả chỉ một khoảnh khắc của thời gian đã đi qua. Điểm yếu của nó là ở đây, nhưng ở đây cũng chính là sức mạnh của nó, nếu như thời khắc đó là độc đắc bất tái diễn, còn bức ảnh được tổ chức theo phong cách nghệ thuật và biểu cảm cực biên.

Một quá trình nữa — đơn giản hoá ngôn ngữ hình ảnh trong truyền thông. Câu nói sau vẫn luôn sống mãi «Dân mạng không hiểu được đâu». Mặt khác, dân mạng, khi lật các trang tạp chí, báo ảnh (ngón cái lướt nhanh trên màn hình smartphone — MiukaFoto), quả thật, họ muốn nghỉ ngơi.

Nhưng cùng lúc đó, vẫn có và sẽ có những trang thông tin dành cho những độc giả thích nghĩ, có những bài viết nghiêm túc mang tính phân tích, chúng cần những bức ảnh đích thực và thông minh, mặc dù hôm nay, cần thừa nhận, nó không được ủng hộ ở nước Nga, điều đó được diễn giải bằng văn hoá ảnh còn yếu kém và sự vắng mặt của các chuyên gia - nhà biên tập ảnh.

Ở phương Tây, nhiều phát ngôn đang nói về khủng hoảng của nhiếp ảnh phóng sự, tuy nhiên, mọi khủng hoảng, đến một lúc nào đó sẽ kết thúc.

Thật thú vị, có cái gì đó tương tự đã và đang xảy ra với sách in, nó được dự đoán là sẽ hoàn toàn tuyệt chủng cùng với sự lớn mạnh của truyền hình và sự phát triển của các phương tiện điện toán truyền thông. Lại phải đành? Không có gì phải sợ — sách sẽ vẫn sống, sống nữa, sống mãi.

Và với sự tự tin đó, có thể nói cả về nhiếp ảnh.

Dù có bất kỳ điều gì sẽ xảy ra với nhiếp ảnh trong tương lai, nó có là ảnh phim, ảnh số, ảnh điện tử, ảnh hạt nhân hay ảnh khác, không phụ thuộc vào vấn đề này, các tổ chức hình ảnh trong khung ảnh sẽ mãi là điều quan trọng số một đối với nhiếp ảnh gia hay thao tác viên máy ảnh, nếu anh ta sau này được đổi tên như thế. Dù máy ảnh của anh ta có thông minh đến cỡ nào, nó không đơn phương giải quyết mọi bài toán xuất hiện và sẽ xuất hiện mỗi lần một khác, khi một người nhìn ra thế giới xung quanh qua ống ngắm và quyết định, lấy «cái» gì vào khung hình, chi tiết nào là cần thiết (và nhất định phải nhấn mạnh chúng), còn cái gì là thừa (chúng nên bị loại bỏ hay là, ít nhất, giảm thiểu), sự kết hợp của chính những chi tiết nào là chứa đựng nội dung, làm thế nào để cường kích tư duy hoặc làm yếu đi và cứ thế, và vân vân. Đưa ra quyết định này, bất kỳ lúc nào, cũng chính là người đang điều khiển máy ảnh, và để làm được điều đó, để giải quyết những vấn đề này, anh ta cần học được ngôn ngữ của bố cục, thứ được gói ghém rất nâng niu trong phần lớn quyển sách này.


20 Nov 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!