Nghệ thuật cần rơi thẳng vào tâm hồn và trái tim, lờ đi quá cảnh vào lĩnh vực trí tuệ.
Ernst Ingmar Bergman 
(1918 - 2007)

ÁNH SÁNG TẠO RA KHÔNG GIAN

Sự tạo bóng đề xuất chia tách mô hình trên một nền đồng đều về độ sáng và màu sắc, cũng như tạo ra một lớp phủ với mật độ thay đổi từ từ. Vì tiếp cận với sự lan tỏa, chúng ta cảm nhận được sự nổi khối. Hình 180 thực sự dẫn dắt chúng ta tới không gian ba chiều. Hai hình chữ nhật con (180a) có thể được nhận thức như nghiêng về chiều sâu của hình ảnh, hoặc (180c) có đường cong hình trụ tưởng tượng, lõm vào hay lồi ra. Còn trong hình 180b, 180d, — đốm đen tròn có vẻ như thụt vào hay nhô ra. Hiện tượng này, như một quy tắc, được bộc lộ yếu ớt, bởi vì phông nền được tô phủ đều đặn, và, suy ra, nghịch lý với hiệu ứng không gian, trong kết quả, đường viền như không được uốn cong. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khác, sự tạo bóng lại trở thành yếu tố quyết định để nhận thức khối nổi hay chiều sâu.


Trong một thực nghiệm, người ta đã đặt một hình nón với đường kính đáy khoảng 12,5cm ở khoảng cách tới mắt 12 mét. Hình nón nằm ngang, sao cho đỉnh của nó hướng thẳng tới mắt người quan sát và do đó trục nhìn của anh ta trùng với trục chính của hình nón. Khi nó được chiếu sáng đều đặn từ tất cả các hướng, người quan sát nhìn thấy một cái đĩa tròn phẳng bẹt đồng nhất. Chỉ khi ánh sáng được chiếu lệch từ một hướng, hình nón mới được nhận thức như một khối nổi. Như vậy, một hình khối không thể bộc lộ kết cấu chừng nào sự chiếu sáng còn là đều đặn. Nhưng khi có sự chiếu sáng vào phía cạnh, nhận thức về hình nón được đơn giản hoá theo hai hướng. Thứ nhất, điều đó gợi ra một bề mặt đồng nhất màu trắng của thân nón tách khỏi phần tối dần đều. Thứ hai, nó biến đổi bóng xám vào hình chiếu dẫn hướng ba chiều của không gian, tương tự như trong phối cảnh tuyến tính, sự hội tụ của các đường viền được nhận thức không phải như tính chất của hình dạng vật thể, mà như một kết quả sắp đặt nó vào độ sâu. Trong cả hai trường hợp, hình dạng nổi khối tạo ra sự biến dạng của vật thể và tiếp nhận sự biến dạng này bằng các tính chất không gian của nó. Nhận thức đặc biệt này tạo ra tiền đề cho khởi tạo không gian trong thị giác. Hệ quả của việc, sự đặc biệt đó trở thành thuộc tính của không gian, là, — người quan sát hầu như không thể nhìn ra nó như một tính chất của chính đối tượng. Và tất nhiên, chúng ta không nhận ra những bóng đổ này hay ít nhất không thể đưa chúng về các «phép toán»: như một quy tắc, chúng ta không nghĩ đến điều đó thậm chí khi có ai đó đề nghị chúng ta đưa ra một diễn giải chi tiết về thứ chúng ta nhìn thấy. Điều tương tự cũng có thể thấy khi một căn phòng được chiếu sáng không đều, khi nhiếp phổ tối dần từ điểm gần nguồn sáng nhất cho đến các góc xa nhất. Mỗi hoạ sỹ hay người chỉ đạo ánh sáng trong nhà hát đều biết rõ, sự chiếu sáng như vậy cường kích hiệu quả hiệu ứng chiều sâu và được nhận thức như một tính chất của khoảng cách, chứ không phải tính chất tự có.

181, 182

Ở hình minh họa 181, bóng đổ tạo ra hiệu ứng chiều sâu nhẹ nhàng hơn so với minh họa 180, bởi vì dạng tròn của đường viền tương ứng với hình dung về một thể cầu. Cần đánh dấu rằng, hiệu ứng trong mịnh họa 181а còn mạnh hơn 181b. Sự phân bố bất đối xứng ở 181а tạo ra biến dạng mạnh hơn, và, bởi vậy, kích ứng của nó có tác dụng ngay tức thì. Hình 181b tạo ra một khuôn mẫu đối xứng tuyệt đối. Khi quan sát hình thức, chúng ta phát hiện ra, nếu muốn có hiệu ứng mạnh, sự biến dạng cần nghịch lý với kết cấu trục của một mảng đơn giản, lệch đi so với kết cấu đó.

Hình dạng bề ngoài của hình mẫu trong minh họa 180с cho phép coi nó như nổi khối. Nhưng những hình mẫu như thế chưa chắc đã gây ra một nhận thức nhất quán. Hiệu ứng này được tạo ra chỉ bằng bóng đổ. Một phương án hoàn toàn khác được giới thiệu ở mình họa 182. Sự kết hợp của hai diện tích gập góc đột ngột không tạo nên cả hiệu ứng bóng đổ, cả hiệu ứng không gian (như minh họa 180а, 180b). Thực ra, nếu chúng ta nhận thức một cách gượng ép minh họa 182 như một mô hình chữ V bẹt, thì nó có vẻ được chiếu sáng không đối xứng: sáng-xám từ bên trái và tối-xám từ bên phải. Nhưng, hình thức biến dạng sẽ tạo ra tính không gian, và ở kết quả, sự chiếu sáng bất đối xứng sẽ cường kích đáng kể cảm giác này. Bây giờ đã có thể nhìn ra vật thể được sắp đặt ở góc; được chiếu sáng đều đặn và bị che lấp bởi bóng đổ, nó dường như là hình chiếu của vật thể nằm trong định hướng không gian.

Bóng đổ có thể dùng để tạo sự nổi khối và chiều sâu bằng phương tiện hình ảnh hai chiều. Nói chuẩn xác hơn, hiệu ứng không gian cuối cùng sẽ chỉ phụ thuộc vào phân bố tương quan độ sáng. Ngoài ảnh hưởng của đường viền, đối tượng trong hình 181, được thấy rất đặc thù bở vì độ được chiếu sáng phân bố theo tất cả các hướng từ một điểm sáng mạnh nhất. Độ tối của mỗi một điểm sẽ xác định độ lệch góc khỏi bề mặt tiếp xúc, trong hình ảnh của chúng ta, nó tiếp xúc với đối tượng hình cầu ở điểm rực rỡ nhất. Cường độ của nhiếp phổ này sẽ xác định độ cong, và tất cả các điểm tối như nhau sẽ được hiểu là có góc nghiêng như nhau so với độ không.


Đối với các vật thể có kích thước lớn hay phòng ở, mức độ tối sáng sẽ xác định khoảng cách tới điểm có độ chiếu sáng lớn nhất. Để tạo ra ấn tượng về khoảng cách xa dần đều, thang độ tối sáng, chiếu hình lên võng mạc, cần tăng dần với một vận tốc xác định tương ứng với các luật về phối cảnh trong không gian tự tháp. Ở đây có thể có điều tương tự như quá trình chuyển động trong phim hoạt hình, khi có một chiếc xe ô tô chạy xa dần tính từ mắt khán giả với vận tốc không đổi, đạt được vận tốc giảm dần của chuyển động trong mặt phẳng tranh xa thẳm. Sự đứt quãng trong quang phổ sẽ gây ra, hoặc thay đổi đột ngột trong định hướng không gian, hoặc bước nhảy ngắt đoạn trong đo lường độ sâu. Khi một vật thể tối sắc ở tiền cảnh của bức tranh được thấy bên cạnh phông nền rực rỡ, khoảng cách giữa hai mặt phẳng sẽ được tạo ra rõ rệt hơn nhờ có độ lệch sáng cao. Hiệu ứng tương tự cũng có thể nhận được nếu một vật thể rực rỡ nằm trước một phông nền tối sắc.

Để thể hiện các vật thể có hình dạng phức tạp, người ta rất thường đòi hỏi sự hợp tác của các đường viền và chia chác ánh sáng, nhờ đó nhận được một địa hình không gian. Các bề mặt diện tích với cùng một định hướng không gian sẽ tương tác với nhau về mặt thị giác nhờ có độ sáng giống nhau. Càng nằm gần tình huống, khi ánh sáng yếu ớt đập vuông góc vào bề mặt, chúng càng có vẻ sáng hơn. Chúng ta đã biết, các vật thể cùng sắc độ sẽ hợp nhóm với nhau trong nhận thức của chúng ta. Như vậy, bè nhóm theo tương đồng về định hướng không gian sẽ đạt được bằng cách gián tiếp. Các bề mặt song song «cấu kết với nhau» bằng mắt, không phụ thuộc vào việc chúng nằm ở đâu trong địa hình, và mạng lưới tương hỗ này là phương tiện cường kích để tạo kỷ luật không gian cho cả một thể thống nhất. Nếu như một con kiến, trong lúc bò trên bề mặt vật thể, nhưng không có động thái gì bất thường, ngoài những bước bò vô định, vô nghĩa đi lên và đi xuống, thì thị giác quan sát chăm chú của con người sẽ nhận thức tổng thể bằng cách so sánh tất cả các mảng diện tích tương tác.

Sự tương đồng trực tiếp giữa độ sáng và định hướng không gian bị phá huỷ bởi bóng đổ, bởi vì chúng che lấp bề mặt đáng nhẽ phải sáng trong các trường hợp khác, cũng như, bị phá huỷ bởi các ánh xạ được chiếu sáng bằng các vị trí tối sắc. Tất cả sự khác biệt trong độ sáng địa phận sẽ tương tác trong sơ đồ ánh sáng. Trong điêu khắc, những vệt bẩn trên đá cẩm thạch hay một thân cây được chiếu sáng không đều thường có thể làm biến đổi hình dạng, nếu chúng được giải thích như một hiệu ứng đón bóng đổ.

Ở đây chúng ta lại va chạm tới một vấn để, xuất hiện khi, thị giác không thể phân biệt được lực phản xạ và lực bức xạ. Hoạ sỹ, trong đó có hoạ sân khấu, tạo ra hiệu ứng chiếu sáng nhờ vào cái bút lông, cũng như, họ tạo ra chiều sâu nhờ các đường hội tụ. Mặt khác, sự chiếu sáng có thể làm độ sáng của đồ vật bị biến thể, giống như việc chiều sâu ép buộc hai đường ray hoả xa phải gặp nhau ở vô cực. Thực nghiệm với cái đĩa làm cho nó có vẻ toả sáng hơn chẳng qua là bởi vì ánh sáng chỉ chiếu vào một mình nó, có thể dễ dàng tạo ra trên sân khấu. Hiệu ứng chiếu sáng cũng có thể được bù trừ bằng bóng tối tương ứng, khi đó sự uốn cong của đồ vật sẽ tiến tới vô hình. Nguyên tắc như thế được sử dụng trong phép che lấp. Mốt hiện đại trong nghệ thuật trang trí đề xuất sao cho bức tường có cửa sổ được sơn sáng hơn một chút so với bức tường đón ánh sáng.

Cũng bằng cách đó, hiệu ứng chiếu sáng và tương phản được bù trừ một phần.

Để mắt có thể phân biệt được độ được chiếu sáng và độ sáng của sự vật, như đã được biết, cần có hai điều kiện. Thứ nhất, tất cả thái độ toả sáng do được chiếu sáng, cần tổng kết lại thành một hệ thống đơn nhất, đơn giản về thị giác; bằng cách tương tự, mẫu hình của các mảng tối và sáng trên bề mặt sự vật cần phải là đơn giản. Thứ hai, các mẫu kết cấu của hai hệ thống không được trùng lặp. Nếu điều kiện thứ nhất không được thoả mãn, sẽ xảy ra sự nhầm lẫn; nếu điều kiện thứ hai không được thực thi, sẽ xảy ra sự lừa mắt, có nghĩa sự phân chia nhận thức về hai hệ thống sẽ khác với sự phân chia vật lý.

Như tôi đã từng nói, sự phân bố khôn khéo của ánh sáng sẽ hỗ trợ cho nhận biết về tính thống nhất và kỷ luật hình thức của một sự vật phức tạp. Cũng có thể nói như vậy về một tập hợp sự vật, có mặt trong khung hình hay trên sân khấu, bởi vì, tất cả những gì được thể hiện trong một bức tranh không phải là gì khác, mà là một vật thể lớn, tất cả các tiểu tiết cụ thể là những thành phần của nó. Một số hoạ sỹ như Caravaggio, đôi khi sử dụng ánh sáng hắt mạnh từ phía cạnh để đơn giản hoá và toạ độ hoá tổ chức không gian trong các bức tranh của mình. Roger de Piles, hoạ sỹ Pháp thế kỷ thứ XVII, nói, nếu tất cả các vật thể được sắp đặt sao cho ánh sáng chỉ chiếu vào một bên, còn bóng tối nằm ở phần còn lại, thì khi đó thị giác sẽ không có cơ hội lang thang. «Sự phân bố các nguồn sáng tương tự như vậy, Titian gọi là một bó nho, bởi vì từng quả nho, khi chúng tách biệt, có ánh sáng và bóng tối của riêng mình trong cấp độ cân bằng và bởi vậy chia rẽ cái nhìn theo nhiều hướng, kéo theo sự mất phương hướng; nhưng nếu các cá thể tập trung vào một chùm nho đầy đủ bằng cách đó, sẽ xuất hiện một khối sáng và một khối tối, và thị giác nắm bắt chúng như một sự vật đơn nhất» *.

* Tham khảo thêm: B. G. Holt (ed.), Literary sources of art history, Princeton, 1947, trang. 413.

185

Các điểm có độ sáng lớn nhất tạo ra định hướng ánh sáng như các chiều không gian, còn khi không gian như một thể thống nhất tiếp nhận sự chiếu sáng, mắt sẽ chú ý tới trung tâm của ánh sáng, dù trung tâm đó có thể nhìn thấy được hay là không. Giống như trong phối cảnh tuyến tính, điểm giao cắt được tưởng tượng bằng các đường hội tụ kể cả khi nó không có mặt trong bức tranh, thì cũng như vậy, cường độ và toạ độ của nguồn sáng có thể được nhận biết qua tác động của nó một cách gián tiếp. Các bóng đổ có thể tác động như những ngón tay kéo dài. Khi các bóng đổ của các vật thể khác nhau được in hình lên một phông nền nằm ngang, các trục chính của chúng sẽ gặp nhau tại một điểm của phông nền chính xác dưới nguồn sáng; nếu như một điểm trên đường viền của vật thể được nối với một điểm tương ứng trên đường viền của chiếc bóng, đường thẳng nối hai điểm này sẽ hướng về nguồn sáng. Chẳng hạn, trong hình 185 ba điểm góc của khối lập phương được thể hiện trong phần bóng đổ, trong lúc đó thấy rõ, các đường nối chúng sẽ hội tụ và cùng nhau hướng về vị trí của nguồn sáng.

Mắt Một Mí (MMM) - Hà Giang, 2017.

Rudolf Arnheim


12 Jan 2018


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!