«Sự phân tách chất liệu ra thành chất ảnh dẫn đến sự thống nhất của mỗi chất ảnh, đến một sự o bế trong quan hệ của tất cả các sự vật hoặc các phần tử của một sự vật bên trong chất ảnh. Trong kết quả của sự thống nhất nội vi này, các quan hệ giữa các sự vật hay trong chính sự vật — giữa các phần tử — được sắp xếp lại. Các sự vật có khả năng biến dạng.»
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)

NHẬN THỨC VỀ ÁNH SÁNG. DẪN CHUYỆN.

Nếu chúng ta tiếp xúc với một hiện tượng nào đó cứ lặp đi lặp lại thường xuyên, hoặc nhận thức một sự vật nào đó không chỉ một lần, cũng như, học được cách phản ứng trước những điều đó một cách bình tĩnh, thì, theo số liệu thống kê, lý trí và cảm xúc của chúng ta sẽ không hề để ý đến chúng theo cách ngạc nhiên. Và dù sao, đó cũng là những phản ứng chung nhất và cơ bản nhất, những thứ trực tiếp mở ra bản chất của tất cả thế giới hiện hữu.

Ánh sáng chính là một trong những yếu tố cơ bản nhất của cuộc sống. Đối với con người, cũng như đối với bất kỳ động vật nào đang sống ngày ngủ đêm, ánh sáng là điều kiện dành cho những hoạt động sung mãn. Nó là sự bổ sung thị giác của một sức mạnh tinh thần khác — sự ấm áp. Ánh sáng mở ra cho nhận thức của chúng ta bản chất của ngày và đêm, năm và tháng, xuân hạ thu đông, đó cũng chính là cốt lõi để phục hồi sức sống. Ánh sáng — đó là một trong những thứ ấn tượng nhất từ cội nguồn cảm xúc của chúng ta. Không phải ngẫu nhiên mà trong giai đoạn đầu của các nghi thức tôn giáo, ánh sáng đã được vinh danh và cầu nguyện. Nhưng ngay sau khi sức mạnh của ánh sáng đã được nhận biết trong cuộc sống thường nhật của con người ở một mức bão hòa, đã xuất hiện một mối đe dọa về sự quên lãng và phản bội lại nó. Đối với các họa sỹ, và, kể cả đối với một người bình thường trong trường hợp họ có cảm hứng thơ, ánh sáng vẫn bảo toàn giá trị tiếp cận tới lĩnh vực sáng tạo, thứ có thể không mất tiền vẫn mua được, nhờ vào việc biết chiêm ngưỡng ánh sáng.

Khái niệm của họa sỹ về ánh sáng được hình thành qua ảnh hưởng của vị trí nói chung của con người và phản ứng của họ. Điều này được thực thi theo hai cách. Thứ nhất, ánh sáng trong con mắt của họa sỹ là mối quan tâm thực tế như một phương tiện để nhấn mạnh sự chú ý. Nhờ có ánh sáng mà chúng ta biết được, điều gì trong nhận thức của chúng ta chỉ là bình thường và bởi vậy không đòi hỏi bất kỳ phản ứng nào đặc biệt. Ánh chớp chói lóa của tia sét, hay, bóng tối bất ngờ ập đến vì nhật thực, rất dễ nhận thức, nhưng bản thân sự nhận thức này lại gây ra những hoảng cảm nhất định. Còn sự tắm mình của những tia nắng ấm áp trong đám lá phong xanh rờn, hoặc, một dải bóng đổ nhẹ nhàng xen lẫn những giọt sáng lung linh, rơi xuống đất từ những trái táo tròn trĩnh trên cây, nhất định làm cho ta chú ý, bởi vì, sẽ xuất hiện nhu cầu thể hiện một thái độ nào đó với điều trực giác mê ly.

Có thể xem qua video sau đây để hình dung ra sự hình thành của trái đất, có nghĩa, sự xuất hiện của chúng ta, trong đó có nhiều nhiếp ảnh gia tương lai:


Mặc dù có hàng trăm video như thế xuất hiện trên YouTube, hết cái này đến cái khác đua nhau giải thích về nguồn gốc của loài người, nhưng chúng ta không thể nào tin tưởng tuyệt đối. Không thể nào, một con như con người, — thứ mà các khoa học gia cho là kết quả của sự tiến hoá ngàn đời, từ các tế bào đơn giản nhất của thời kỳ Băng Hà, trải qua thời kỳ thành cá, khủng long hay phì nộn hơn, các loài vượn, khỉ — sau đó có thể trở thành một thể có tâm hồn nhiếp ảnh gia, biết ngạc nhiên, thậm chí, còn biết tìm cách giải thích cho sự ngạc nhiên.

Thứ hai, sự hình dung của họa sỹ về ánh sáng được dựa trên những chứng ngôn của mắt mình — những chứng ngôn đã tự thân khảng định rằng, chúng khác xa với cái nhìn của bác học vào một hiện tượng vật lý. Thậm chí những dữ kiện thông dụng cũng khó mà thay thế được dữ liệu của việc quan sát trực tiếp. Đã trải gần năm trăm năm kể từ ngày xuất hiện học thuyết Copernicus về sự quay vần của các thiên thể, thế mà mặt trời vẫn chuyển động trên bầu trời. Thuyết địa tâm cổ đại về sự quay quanh trái đất của mặt trời, thực tế chưa bao giờ được khảng định bằng nhận thức thị giác. Cho tận đến ngày nay, mặt trời sinh ra ở đằng đông và chết ở đằng tây. Bây giờ, mắt chúng ta, có lẽ, đã chấp nhận nhãn sinh quan, rằng thế giới sẽ kết thúc ở đường chân trời, và, có thể, cùng với thời gian chúng ta sẽ quen dần với thuyết giáo đúng mười mươi: chúng ta đứng trên mặt đất, và cả chúng ta và mặt đất quay quanh địa tâm, còn địa tâm quay quanh mặt trời bất động và vĩnh hằng?

Các nhà vật lý đã thuyết phục chúng ta, rằng ánh sáng, thứ vây quanh chúng ta, có tính tương tác. Ánh sáng, toả ra từ bầu trời, được gửi xuyên qua vũ trụ đen chạm tới hành tinh tối, bằng mặt trời, ở khoảng cách một trăm năm mươi triệu ki lô mét. Đó là một sự đồng thuận rất tồi tệ với dữ liệu nhận thức ánh sáng. Mắt hình dung, rằng bầu trời tự toả sáng cho chính nó, còn mặt trời là một thứ gì đó khác, như là một tâm điểm rực rỡ nhất của nó, có vẻ như, được sinh ra trong bầu trời. Chiểu theo «Sách Sáng Thế» trong Kinh Thánh, sự xuất hiện của ánh sáng được sinh ra trong ngày thứ nhất, vào lúc đó thì mặt trời, mặt trăng và các vì sao chỉ được thêm vào ở ngày thứ ba. Trong câu chuyện mà Piaget đã thảo luận với các con, một bé bẩy tuổi đã phát ngôn, rằng, chính bầu trời đã sinh ra ánh sáng. «Mặt trời không giống gì ánh sáng. Ánh sáng toả ra mọi nơi, còn mặt trời — chỉ ở nơi có nó». Và một bé khác diễn giải: «Cứ mỗi lần, khi mặt trời thức dậy vào buổi sáng, nếu nó thấy hôm nay thời tiết không đẹp, nó sẽ di chuyển tới nơi có thời tiết đẹp».

Ồ! Hoá ra, ánh sáng là một hiện tượng (hay một tính chất) độc lập, vốn có bên trong các đối tượng, chứ không phải tương tác chuyển hoá từ vật này qua vật khác. «Ngày» — đó là một thứ rực rỡ mà người ta hay liên tưởng đến sự tích tụ của những đám mây trắng muốt, thoát ra từ bên trong, và di chuyển trên bầu trời. Cũng chính bằng cách đó, độ rực rỡ của các vật thể trên trái đất, nhìn chung, được nhận thức như một tính chất tự có, chứ không phải như kết quả của sự phản sáng. Bỏ qua một số trường hợp đặc biệt, mà sẽ được nhắc đến sau, độ sáng của nhà cửa, cây cối hay quyển sách đang nằm trên bàn, không được chúng ta nhận thức như một món quà nào đó mà nguồn sáng ở xa ban tặng. Trong trường hợp cố hữu nhất, ánh sáng ban ngày (hay ánh sáng của bóng đèn điện) soi sáng các vật, giống như que diêm châm mồi cho đầu củi. Những vật này kém rực rỡ hơn mặt trời hay bầu trời, nhưng về nguyên tắc không khác gì nhau cả. Đơn giản là chúng soi sáng yếu ớt hơn.


Bằng cách tương ứng, bóng tối được nhận thức, hoặc như sự tắt đi của độ rực rỡ vốn có của vật thể, hoặc như một hiệu ứng nhận được khi giấu những vật sáng trong bóng của những vật tối. Đêm — đó không phải là kết quả âm tính khi xua đuổi ánh sáng, mà là sự xuất hiện dương tính của một bức màn tối thay thế hoặc che lấp ban ngày. Đêm, như trẻ con vẫn tưởng tượng, được tạo thành từ những đám mây đen chuyển động sát nhau đến nỗi, màu trắng không thể nào xuyên thủng chúng. Một số hoạ sỹ, như, Rembrandt hay Goya, ít nhất là trong một số bức tranh của mình, đã thể hiện thế giới như một không gian tối, từng chỗ được soi tỏ bởi ánh sáng. Hoá ra, bằng phương tiện nghệ thuật, họ đã khảng định các phát minh của các nhà vật lý. Tuy nhiên, như đang thấy, đến tận ngày nay vẫn thịnh hành một quan điểm nhìn nhận, chiểu theo đó, ánh sáng, mặc dù được sinh ra từ bóng tối nguyên sơ, vẫn lả một phần không thể tách rởi của bầu trởi, của mặt đất và của các vật sinh sống trên trái đất, cỏn độ rực rỡ và độ sáng theo chu kỳ lúc thì xuất hiện, lúc thì biến mất trong sự phụ thuộc vào bóng tối.

Khảng định rằng, — tất cả những điều đã nói ở trên là những chuyện phù phiếm sai lệch, chỉ lừa được trẻ con và những người không biết gì, và tất cả những điều đó đi ngược lại với khoa học tiên tiến, — dường như là đã bỏ qua kho tàng kinh nghiệm thị giác, thứ đang tìm một ánh xạ trong hình dung của các hoạ sỹ. Kiến thức đã ép buộc chúng ta từ chối những điều bịa đặt, giống như chuyện sinh ra để lừa trẻ con, lừa người cổ đại và lừa thổ dân rừng rậm Amazon. Tuy nhiên, sự quan sát của chúng ta vào thế giới vẫn sẽ là không đổi, bởi vì nó được xác định bằng những điều kiện không thể chối bỏ của nhận thức, thứ đang diễn ra mọi nơi và mọi lúc. Hơn nữa, người ta đã dậy chúng ta dựa dẫm vào kiến thức nhiều hơn là vào nhận thức thị giác như đã kể ở trên, đến mức, trẻ con và hoạ sỹ cũng phải vào cuộc, để cứu chúng ta thoát khỏi sự số hoá trong não bộ, giúp chúng ta hình dung lại thứ mà chúng ta đang nhìn thấy.

Nhiếp ảnh phải có khả năng gây ngạc nhiên, và, người làm ra nó phải có khả năng biết tự ngạc nhiên, giống như trẻ con và các hoạ sỹ.

6 Nov 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Ánh sáng
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!