«Sự phân tách chất liệu ra thành chất ảnh dẫn đến sự thống nhất của mỗi chất ảnh, đến một sự o bế trong quan hệ của tất cả các sự vật hoặc các phần tử của một sự vật bên trong chất ảnh. Trong kết quả của sự thống nhất nội vi này, các quan hệ giữa các sự vật hay trong chính sự vật — giữa các phần tử — được sắp xếp lại. Các sự vật có khả năng biến dạng.»
Yury Tynyanov 
(1894 - 1943)

KHÔNG GIAN TRANH

Ở đâu đó trong quá khứ, chúng ta hẳn đã từng chứng kiến một họa sỹ giơ cây bút chì (hay một cái nan xe đạp) lên trước mặt, không phải để vẽ, mà là để tính toán một cái gì đó rất mơ hồ trong không gian. Đó là điều ngạc nhiên tiền khởi của thời thơ ấu. Và sau này, chúng ta hiểu được, điều đó liên quan tới một khái niệm cực kỳ ảo tưởng — không gian tranh, hay còn gọi là không gian (hình) ảnh.


Cơ sở cốt lõi của phối cảnh tuyến tính, không cần phải bàn cãi, là phối cảnh tỷ lệ (nhãn cỡ). Có thể chỉ ra rằng, sự hội tụ của những đường song song, cũng như tính triệt khối của mặt phẳng kết cấu nằm ngang, — mang tên «thổ diện» (hình 33-36) được diễn giải chính là phối cảnh kích thước (sự nhỏ dần của các vật thể như nhau khi chúng lùi ra xa).


Từ «như nhau» ở đây rất quan trọng, hai hình thù ất ơ, bị loại bỏ sự tương đồng về hình dạng và màu sắc, sẽ không tạo ra hiệu ứng thuyết phục về chiều sâu không gian (hình 611). Hình vuông đen và hình tam giác trắng được nhân biết, trước hết, là nằm trên mặt phẳng giấy ảnh, hơn là nằm sau nó.


Và, ngược lại, nhận biết không gian được tăng cường lên nhiều, nếu xem xét một dãy các hình thù đồng dạng nhưng có kích thước nhỏ dần. Chúng ta nhận thức điều này như sự chuyển động của một hình thù từ tiền cảnh tiến về chiều sâu không gian ảnh (hình 612).


Khi nhận diện một hình ảnh phẳng, các dấu hiệu kiểu ống nhòm (cái nhìn bằng cả hai mắt) sẽ chống lại phối cảnh ảo tưởng. Chúng tuyên bố rằng, trước mắt chúng ta chỉ là một đối tượng hình ảnh phẳng. Có nghĩa, nhận thức thị giác trong trường hợp này là bẹt.

Và chính những dấu hiệu kia, điều có thể thể hiện trên giấy (trước hết, đó là phối cảnh kích thước), lại nói về điều ngược lại: không gian trong hình ảnh phẳng là có thật. Và đó là phần việc do ý thức đảm nhiệm. Nhận thức logic về hình ảnh phẳng, — khi có sự có mặt của phối cảnh tuyến tính, — lập tức trở thành có yếu tố không gian. Trong lúc khám phá hình mẫu không gian trong hình ảnh phẳng, — với sự trợ giúp của các dấu hiệu thị giác phối cảnh, — chúng ta bị nhập hồn vào không gian ảo ảnh của bức tranh.

Không gian phía sau mặt phẳng hình ảnh thường được gọi là không gian ảnh, còn không gian phía trước nó — không gian khán giả.

Đầu tiên chúng ta sẽ xác định, bằng cách nào mà mắt (não bộ) tìm được kích thước và độ xa của một đối tượng trong không gian thực. Đối tượng có kích thước tuyến tính L, mắt nhìn nó dưới một góc α, khoảng cách đến đối tượng là S (hình 613).


Bởi vì không có điều kiện đo trực tiếp kích thước tuyến tính, mắt xác định nó theo kích thước góc. Bằng cách nào đó, mắt nhận thức được chính kích thước góc của đối tượng, có thể là, theo giá trị đại lượng của đối tượng trên võng mạc. Sau đó mắt (thực ra là não) giải một bài toán với hai ẩn số: kích thước tuyến tính và khoảng cách đến đối tượng. Để giải bài toán này, cần xác định một trong hai giá trị nghiệm số, khi đó có thể tìm ra nghiệm thứ hai.

Khoảng cách đến một đối tượng đủ gần sẽ được xác định bằng cơ cấu thị giác ống nhòm (sau đó kích thước của nó «được tính toán»).

Khoảng cách hay kích thước của đối tượng ở xa hơn, — sẽ được xác định bởi những dấu hiệu gián tiếp. Mắt (ý thức) "đo" kích thước bằng phương pháp so sánh đại đại lượng này với những vật thể quen thuộc. Điều đó xảy ra khi trước mắt chúng ta là các đối tượng có thể ý thức được: hai cái cây, hai bóng người hoặc hai mảng hình học tương tự nhau. So sánh kích thước khả thức của các đối tượng ở xa với kích thước của đối tượng ở tiền cảnh (khoảng cách tới đó, bằng hai mắt, đã được xác thực), mắt giải nốt bài toán trong «não thị» và tìm ra khoảng cách tới đối tượng tại lớp cảnh đó (hình 614).


Nhận thức thị giác khác với nhận thức logic ở chỗ, nó loại bỏ hoàn toàn logic. Đối với nó, không có đối tượng quen thuộc, tất cả chỉ là các mảnh hình học và vệt màu trên mặt phẳng.

Trong không gian thực, kích thước tuyến tính của đối tượng, tất nhiên, được bảo toàn. Nhưng, khi đối tượng tiến lại gần mắt, kích thước góc của nó tăng lên. Khi đẩy đối tượng ra xa, kích thước góc của nó nhỏ đi (hình 615-1).


Hình ảnh trên là chính xác, nhưng nó có một nhược điểm — đó là nhìn từ bên cạnh, bởi thế hai đối tượng, gần và xa, giống nhau về kích thước. Trong hình 615-2 chỉ ra, mắt nhìn thấy chúng như thế nào.


Với bất kỳ dịch chuyển nào của đối tượng trong không gian thực, kích thước góc của nó sẽ thay đổi, nhưng kích thước tuyến tính thì không bao giờ thay đổi. Bởi vậy chúng ta nhìn thấy các vật càng xa càng nhỏ, còn càng gần — càng to, có nghĩa đơn giản là chúng di chuyển theo những kích thước góc khác nhau. Đó là kích thước ảo (có tính ý thức) của đối tượng.

Chúng ta đã quá quen với một thực trạng, rằng không thể tưởng tượng nổi ra một không gian khác. Ấy thế mà, nó là có thật. Và đó chính là không gian tranh!

Vậy, không gian tranh có khác với không gian thực hay không?

Với sự trợ giúp của các dấu hiệu thị giác có tính phối cảnh, trong hình ảnh phẳng, có một mô hình của không gian thực được xây dựng. Nhưng đó chỉ là mô hình. Tất nhiên, không có không gian nào hết đứng đằng sau hình ảnh, đó là ảo tưởng, là bào thai trong trí tưởng tượng của chúng ta. Không gian tranh — đó là sự bắt chước, là giả mô hình rất tốt. Đó là lừa dối, là trò chơi làm thỏa mãn con người qua nhiều thế kỷ.

Chúng ta sẽ không quên rằng, có hai loại nhận thức — logic và thị giác. Chỉ một trong hai loại này nhìn thấy không gian trên mặt phẳng tranh. Loại kia nghịch lý với điều này. Bởi vậy, không gian tranh chỉ phần nào giống không gian thực, muốn chui vào nó, ta buộc phải tưởng tượng. Cùng lúc, cấp độ của sự «giống» này là, trong tranh, hơn nữa là trong ảnh, chúng ta nhìn thấy những con người thực sự (trong số đó có cả chúng ta), những phong cảnh thực sự và những đồ vật thực sự.

Chúng ta nhắc lại một lần nữa hiện tượng tranh vẽ, điều tuyệt vời của hình ảnh phẳng: đối tượng trong bức tranh có khả năng cùng một lúc nằm ở hai nơi. Ví dụ, người bé trong hình 614 — đó là bản copy nhỏ đi của người đứnh dưới anh ta, nhưng cũng cùng lúc đó, đây là người có kích thước y hệt, chỉ là anh ta nằm trên mặt phẳng giấy, ở nơi anh ta được thể hiện.

Bởi vậy, điều tuyệt diệu nằm trong sự đồng thời này, thứ trong đời thực là không thể nào (không một đối tượng nào trong thế giới ba chiều quen thuộc có thể đồng thời nằm ở hai vị trí khác nhau). Mỗi một loại từ hai loại nhận thức trên sẽ đưa ra cái nhìn về hình ảnh phẳng: vừa là hai chiều, vừa là ba chiều. Và chúng ta đồng thời nhập vào hồn mình cả hai loại này, và cũng từ đây xuất hiện hai vị trí của một và chính một đối tượng trong không gian tranh.


Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau (hình 616). Một người ở tranh A, vì một lý do nào đó lại rơi vào không gian tranh và biến đổi vào mặt phẳng B.

Giả sử, kích thước của người B khi đó là không đổi. Có nghĩa là, kích thước góc (nhìn thấy) của người A và người B sẽ khác nhau, kích thước nhìn thấy của người thứ nhất lớn hơn người thứ hai.

Nhưng người này đồng thời nằm ở mặt phẳng tranh A và mặt phẳng B, ở đây chúng ta không quên, đối với thị giác thì cả hai người — đó chính là một và chỉ một đối tượng! Nhưng khi đó hình ảnh của người được vẽ sẽ được nhân đôi * (hình 617). Điều này, dĩ nhiên, dường như nói lên cái chết của nghệ thuật biểu hình, cái chết của tất cả tranh vẽ và ảnh phẩm.

* Chúng ta giả định, không gian tranh được nhận thức như thật. Nhưng khi đó người ở xa (B) cần phải nhỏ đi, đó là điều chúng ta nhìn thấy trong hình 617.


Nhận định của chúng ta hoá ra là không đúng, kích thước thật của đối tượng trong mặt phẳng tranh và không gian tranh không thể nào có thể bằng nhau được.

Bù lại, kích thước góc của chúng sẽ có lúc bằng nhau. Chỉ đó điều, trong trường hợp này, cả hai hình ảnh sẽ được nhận thức như nhau. Trong điều kiện kích thước góc của hình ảnh là hằng số, xung đột của hai loại — nhận thức thị giác và nhận thức logic, — không gây ra sự thay đổi đột ngột về kích thước (sự nhân đôi hình ảnh), và nghệ thuật biểu hình sẽ vẫn sống.

Nói một cách khác, dễ hiểu hơn, kích thước tuyến tính (kích thước thật) của hình thù, khi lùi sâu vào không gian tranh, cần phải tăng lên, để kích thước góc của nó không thay đổi.

Và đó chính là phương tiện để đồng thời nhận thức hai hình ảnh. Trong thế giới thật, không thể tưởng tượng nổi, khi lùi ra xa, đối tượng không nhỏ đi, mà lại to ra. Nhưng có thể hay không, hình dung ra một đối tượng nào đó, cùng lúc nằm ở hai vị trí khác nhau của không gian? Đối tượng này chui ra từ đối tượng kia!

Trước đây chúng ta đã cho rằng, không gian hình ảnh được nhận thức như thật. Điều này là logic, nó tương ứng với kinh nghiệm của chúng ta khi nhìn vô vàn các bức tranh, hình vẽ hay ảnh phẩm. Không gian hình ảnh được hiểu như hoàn toàn là thực tế, bởi vì một không gian khác hay một nhận thức khác, — chúng ta không thể hình dung.

Luận điểm đó có thể được bảo vệ như sau: những định luật phối cảnh tuyến tính, mà dựa vào chúng, hoạ sỹ xây dựng lên không gian tranh (còn chúng ta, tương ứng, nhận thức nó), được đúc kết từ thực tế. Định luật ra sao thì nhận thức, hiển nhiên, sẽ như vậy.

Và có thực sự như thế không, nếu tính chất cơ bản của không gian hình ảnh — sự bảo toàn kích thước góc — mâu thuẫn với tính chất bảo toàn kích thước tuyến tính trong không gian ba chiều?

Hãy cùng xem xét trường hợp sau đây — hai đối tượng có cùng kích thước trong không gian thực (hình 618-1). Đối tượng 1 gần mắt hơn, còn đối tượng 2 xa hơn, kích thước tuyến tính được bảo toàn, còn kích thước góc là khác nhau.


Trên hình vẽ thể hiện góc nhìn từ mặt bên, vì vậy đối tượng 1 có kích thước tuyến tính giống như đối tượng 2. Nhưng đối với võng mạc, tất nhiên, cái thứ hai nhỏ hơn cái thứ nhất, bởi vì góc nhìn của mắt khi quan sát đối tượng 2, nhỏ hơn góc nhìn khi thị giác hướng tới đối tượng 1. Mắt nhìn thấy hai đối tượng có đại lượng kích cỡ khác nhau (hình 618-2).

Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang không gian hình ảnh (hình 619-1). Để làm được điều này, chúng ta vẽ lên mặt giấy A những gì mà mắt đang nhìn thấy trong thực tế.


Tiếp theo, điều sau đây sẽ xảy ra: đối tượng 1 lớn hơn về kích thước, nó ở lại trên mặt phẳng A của hình vẽ. Đối tượng 2 được di chuyển bằng tâm tưởng sang mặt phẳng В của không gian hình ảnh và to phình lên bằng kích thước của đối tượng thứ nhất (đó là đối tượng 2 B). Mắt nhìn thấy đối tượng 1 trên mặt phẳng A, còn đối tượng 2 B — trên mặt phẳng B và đồng thời nhân bản nhỏ đi của nó trên mặt phẳng tranh vẽ А. Kích thước góc trong hai lưu ảnh của đối tượng 2 là như nhau, không có sự biến đổi về kích thước.

Nhận thức không gian hình ảnh — đó là công việc của ý thức và chỉ có thể của riêng một mình ý thức. Ý thức luôn tìm lối thoát hiểm cho những tình huống mơ hồ — nó dịch chuyển lưu ảnh có kích thước nhỏ hơn ra xa và đồng thời tăng kích thước của lưu ảnh này lên (nếu coi các đối tượng là to bằng nhau).

Như một phần thưởng dành cho sự cố gắng của ý thức, khi đối tượng nhỏ đã to raxa hơn, mô hình đó của không gian, thứ được thể hiện trên tranh vẽ, sẽ được nhận thức như không gian thực.

Và bây giờ mắt không chỉ nhìn thấy mặt phẳng hình vẽ, mà còn hình dung ra không gian trong mặt phẳng này. Khi đó, nó, tất nhiên, sẽ bóp nhỏ các vật «ở xa» theo luật chơi của không gian thật. Có nghĩa, đầu tiên, chúng nở to ra chỉ để — sau đó, sẽ co nhỏ lại.

Bằng cách phân tích đó, chúng ta đi tới kết luận sau: khi nhận thức không gian thực và không gian tranh, về bản chất, thị giác nhận thức một và chỉ một bức tranh, có nghĩa, sự nhận thức cả hai không gian này là như nhau. Tất nhiên, các kích thước trong tranh А là nhỏ hơn so với thực tế, bởi vì trước mắt chúng ta không phải là bản copy của không gian thực, mà chỉ là mô hình của nó. Bù lại, tỷ lệ kích thước của các đối tượng được truyền đạt một cách chính xác, một vật được thấy gần hơn, vật kia xa hơn. Tất cả diễn ra như chính không gian thực ba chiều.

Sự khác nhau chỉ nằm ở chỗ, đối tượng 2, trong không gian thực, được nhận thức là nhỏ hơn, bởi vì nó nằm xa hơn. Trong không gian hình ảnh, ngược lại, đối tượng 2 được nhận thức là xa hơn, bởi vì nó được thể hiện (trong tranh vẽ A) nhỏ hơn.

Suy ra, chỉ có thể nhờ vào hiện tượng không gian tranh (vật lùi xa sẽ to ra, chứ không phải nhỏ đi) ở bước đầu tiên, ta đã bỏ qua được sự nhảy cóc nghịch lý của kích thước, — một sự đột ngột — gây ra bởi sự tồn tại hai mặt của đối tượng trong tranh vẽ A. Trong bước tiếp theo, đối tượng 2 B trên mặt phẳng B sẽ trở thành hoàn toàn thực.

Tất nhiên, sự chia cắt nhận thức ra thành các bước — đầu tiên ý thức thổi phổng, sau đó thị giác bóp nhỏ — chỉ có tính ước lệ. Bù lại, nó giải nghĩa được bản chất của quá trình một cách nhãn quang.

Không gian hình ảnh, ban đầu được thể hiện không nhất quán, đó là một mặt phẳng, và tất cả các đối tượng trong bức tranh nằm trên bề mặt của nó một cách khách quan (sự nhận thức bẹt). Nhưng đồng thời, sự nhận thức không gian cũng vào cuộc, và ở đó, một phần các hình ảnh của các đối tượng được nhận thức một cách phối cảnh trong một không gian mơ hồ nằm sau mặt phẳng hình ảnh, có nghĩa là, nằm trong không gian tranh; còn một phần — trong mặt phẳng ảnh, hoặc, thậm chí, trong không gian khán giả nằm phía trước mặt phẳng này. Có nghĩa, các đối tượng có thể xê dịch trong không gian ảo, không phải là chính chúng, tất nhiên, các đối tượng như các hình thể vật lý, mà là các lưu ảnh của chúng.

Dù vật ảnh có thế nào đi chăng nữa, lưu ảnh của nó sẽ lang thang ở đâu đó, hoặc trên mặt phẳng hình ảnh, hoặc trong không gian hình ảnh, hoặc trong không gian khán giả. Nhưng khi đó, điều quan trọng một cách khẩn cấp và có tính khởi não, đó là — kích thước hiện hữu (kích thước góc) của vật ảnh trong nhận thức bẹt và nhận thức không gian — phải bằng nhau.

Kích thước góc của vật ảnh được bảo toàn, nhưng kích thước thật (kích thước tuyến tính) của nó có thể được tăng lên hay giảm đi, đó là kích thước ngộ nhận hay còn được gọi là kích thước ảo tưởng.

Cả hai loại kích thước, — kích thước tuyến tính và kích thước góc, — đồng thời được bảo toàn — đó là điều không thể, một trong hai loại nhất định bị thay đổi.

Điều này có thể thấy trong hình vẽ sau (hình 620-1; ba vật ảnh đồng cỡ trên mặt phẳng tranh).


Vật ảnh 1 được nhận thức trong mặt phẳng ảnh А bằng kích thước thật của nó. Giữa nhận thức thị giác và nhận thức logic không có sự mâu thuẫn. (Vật ảnh 1 — đó là một hình khép kín có màu sắc của phông nền, hay còn gọi là không gian âm, là khoảng trống xen giữa các hình thù).

Vật ảnh 2 nằm trên mặt phẳng ảnh, và đồng thời cũng nằm trên không gian tranh. Để ý thức được điều này, vật ảnh 2 được vẽ trên mặt phẳng B của không gian tranh (đối tượng 2 B). Mắt nhìn thấy nó trên mặt phẳng ảnh A. Bởi vậy kích thước góc của đối tượng 2 đúng bằng kích thước thể hiện trên bức vẽ * . (Đây là hình thù xê dịch sâu vào không gian tranh bởi hiệu lực của phối cảnh kích thước).

* Khoảng cách đến mặt phẳng tranh đã rõ ràng đối với mắt (thị giác ống nhòm). Khi đã biết được khoảng cách này và kịch thước góc, mắt sẽ xác định được kích thước tuyến tính của đối tượng 2.

Chúng ta đánh dấu rằng, sự nhận thức các đối tượng trong không gian ảnh và trong không gian khán giả là hoàn toàn khác nhau theo bản chất của tự nhiên.

Vật ảnh 3 nằm trên mặt phẳng ảnh А và đồng thời trên mặt phẳng C của không gian khán giả (3C). Để ý thức được điều đó, đối tượng 3 nằm trên mặt phẳng ảnh, còn đối với mắt — nằm trên mặt phẳng C (nói kỹ hơn sau). Bởi vậy kích thước thật của nó bị giảm đi ** . (Hình thù đó chúng ta sẽ gọi là nhô ra ngoài, thường thì nó có sắc độ tối hơn phông nền).

** Kích thước góc của các đối tượng 3 và 3C là bằng nhau, mắt nhìn thấy chúng như nhau (không có sự nhảy cóc về kích thước). Nhưng kích thước tuyến tính lại được xác định bằng hai biến số: kích thước góc và khoảng cách tới đối tượng. Khoảng cách này đã nhỏ đi (mặt phẳng C gần hơn so với mặt phẳng A), có nghĩa, kích thước ảo tưởng của đối tượng 3C cũng cần nhỏ đi..

Và tiếp tục, mắt nhìn thấy các đối tượng 1 và 2 bằng nhau, còn đối tượng 3 nhỏ hơn (hình 620-2).

Trong hình 621-1 có vài đối tượng với kích thước góc như nhau trong không gian ảnh. Kích thước ảo ảnh thay đổi, còn kích thước nhận thức thì không đổi (hình 621-2). Để xác định được kích thước ảo ảnh của một trong những đối tượng đó, cần biết khoảng cách từ mắt đến nó.


Kích thước ảo tưởng của vật ảnh nhỏ đi, khi vật ảnh tiến về mắt khán giả. Và kích thước này tăng lên, khi vật ảnh lùi xa khỏi mắt khán giả. Điều này, tất nhiên, hoàn toàn tương ứng với kinh nghiệm thị giác của chúng ta. Nhận thức về không gian ảnh là «đảo lộn» so với thực tế, trong nó mọi thứ diễn ra ngược lại!

Và thế là, nếu như trong sự tiến lại gần hoặc lùi ra xa, kích thước góc của đối tượng thay đổi, nhưng kích thước tuyến tính được giữ nguyên — đó là không gian thật. Nếu như trong một chuyển động ảo tưởng, kích thước tuyến tính của vật ảnh thay đổi, nhưng kích thước góc được bảo toàn — đó chính là không gian tranh.

Trong thực tế, để xác định được độ xa của một đối tượng quen thuộc nào đó, chúng ta so sánh kích thước hiển thị của nó với một một kích thước vật lý rõ ràng. Kích thước hình thù của con người, cây cối, nhà cửa, xe cộ, v.v... là rõ ràng theo kinh nghiệm.

Trong quá trình nhận thức một hình ảnh, không có điều tương tự xảy ra. Có một người, dù đứng ở tiền cảnh hay, hơn nữa, đứng ở hậu cảnh (có không gian thu hẹp), chúng ta không kéo căng anh ta về kích thước thật, mặc dù ảo tưởng vẫn mạnh mẽ vô cùng, nên chúng ta nhận thức cả hai trường hợp như là một con người thực.

Vậy kích thước quen thuộc trong hình ảnh là gì, thứ mà chúng ta đem ra so sánh với một hình người bé tí tẹo ở hậu cảnh (bởi vì, bằng không, chúng ta sẽ không thể xác định được độ xa của anh ta trong không gian)?

Câu trả lời khá đơn giản: mắt chọn ra một vật thể lớn nhất từ vài cái tương tự, và vật thể này nghiễm nhiên trở thành hình mẫu, kích thước của tất cả các thứ còn lại sẽ được so sánh với nó trong mặt phẳng hình ảnh (hình 612).

Có thể đặt hai đối tượng quen thuộc ở cạnh nhau, ví dụ, nếu như trong hình ảnh có một người cao bằng cái cây, chúng ta, khi đã biết kích thước của anh ta theo tỷ lệ với kích thước cây, sẽ hình dung được một cách gần đúng, người này gần mắt chúng ta hơn đến mức nào (hình 622).


Tất cả các phương tiện của phối cảnh, tất cả các dấu hiệu thị giác trong tổng thể sẽ tạo ra ảo tưởng về một không gian có chiều sâu trong hình ảnh. Và không gian ảo tưởng này «giống thật» đến mức, chúng ta nhận thức nó như ngoài đời và không thể nhận thức theo cách khác. Chất liệu hình ảnh, giấy ảnh hay vải vẽ, bỗng nhiên trở thành trong suốt, chúng ta nhìn thấy trong hình ảnh một góc cuộc đời có ba chiều.


Bây giờ chúng ta quay lại ví dụ về hai hình tròn (hình 623; cũng như đọc thêm bài này). Nếu như giả định, rằng hai hình tròn thực chất là bằng nhau, bài toán sẽ trở thành có lời giải, và chúng ta có thể tìm được vị trí của hình tròn nhỏ trong không gian.

Thế này nhé, trong sự nhận thức bẹt, cả hai hình tròn nằm trên mặt phẳng A của hình ảnh. Trong nhận thức không gian hình tròn to (r2) sẽ ở lại mặt phẳng đó, hình tròn nhỏ (r1) sẽ lùi sâu vào trong không gian và sẽ phình to ra (mặt phẳng B). Chúng ta giả định rằng, bán kính của các hình tròn trên mặt phẳng hình ảnh là r1 và r2. Chúng ta gọi chúng tương ứng là hình tròn 1 và hình tròn 2 (hình 624).


Ở đây S — khoảng cách từ người quan sát tới bức tranh chứa hình tròn r2, h — khoảng cách từ mặt phẳng ảnh tới vị trí hình dung của vòng tròn r1 trong không gian tranh.

Hình tròn 1 tách khỏi mặt phẳng ảnh và lùi sâu vào không gian ảnh, cùng lúc, tăng kích thước của mình lên bằng với kích thước của vòng tròn 2.

Chụp ảnh thì cũng nên nhớ môn đại số hình học một chút, phải không ạ? Chiểu theo định luật tuyến tính của một góc, ta có::
r1 / r2 = (S + h) / S
suy ra:
(S + h) = S * (r1 / r2)
như vậy:
h = S * (r1 / r2) - S
hay:
h = S * (r 1 - r 2 ) / r 2

r1 — kích thước ảo tưởng của hình tròn nhỏ trên mặt phẳng B, r2 — kích thước thật của nó trên mặt phẳng ảnh A.
Nếu r1 = r2 , thì h = 0, nếu r2 tiến đến 0, thì h bị phóng đại đến vô cùng tận.
Giả sử r2 = 1/2 r1 , khi đó h = S. Dịch thành lời: nếu vòng tròn nhỏ trên mặt phẳng ảnh bé bằng một nửa (theo bán kính hoặc đường kính) hình tròn to, khi đó nó nằm sau mặt phẳng ảnh ở một khoảng cách đúng bằng khoảng cách từ tranh đến người quan sát.

À há, vậy là, phối cảnh kích thước — phương tiện duy nhất và đáng tin cậy nhất — để tạo ra trong tranh vẽ hoặc phác thảo, một không gian ảo tưởng — sâu bao nhiêu cũng được.

Cần đánh dấu rằng, các dấu hiệu còn lại: sự che lấp, phối cảnh không khí hay phối cảnh sắc độ, phối cảnh bằng bóng đổ và vân vân... có thể tăng cường cảm giác về không gian này (hoặc giảm thiểu nó), nhưng khi phải tự thân để tạo ra một không gian hình ảnh, — chúng hoàn toàn bất lực.

Như vậy, có thể tổng kết những điều cơ bản của hiện tượng nhận thức không gian hình ảnh:
  1. Đối tượng, nằm trên mặt phẳng hình ảnh, đồng thời có thể nhận thức như đang nằm trong không gian hình ảnh.
  2. Nhận thức không gian hình ảnh — đó không phải là ảo ảnh thị giác (lỗi lầm của mắt), mà là một hệ cài đặt của nhận biết. Không gian hình ảnh được nhận thức như một điều có thực và quen thuộc.
  3. Dù hình ảnh của một đối tượng nào đó có nằm ở đâu đi chăng nữa trong không gian được thể hiện, kích thước được nhận thức (kích thước góc) của nó vẫn là không đổi và bằng đúng kích thước có trên mặt phẳng hình ảnh (tranh vẽ).

Kích thước ảo của vật ảnh, tất nhiên, phụ thuộc vào độ xa của nó trong không gian hình ảnh. Nhưng về mặt thị giác, kích thước này không được nhận ra, chúng ta chỉ có thể đánh giá nó một cách logic, bằng cách tưởng tượng ra độ xa của đối tượng này.

Rất là khó hiểu, phải không ạ? Không sao, không sao. Chúng ta hãy quên đi tất cả, chỉ nhớ một ý nhỏ sau đây. Quá trình tìm hiểu nghệ thuật phải trải qua nhiều chu kỳ, trong đó mỗi chu kỳ có ba cột mốc: Không hiểu và không ngạc nhiên, vẫn không hiểu nhưng bắt đầu ngạc nhiên, hiểu một phần nhưng chính vì thế lại tiếp tục ngạc nhiên. Và, cần lắm, giữa những cột mốc đó — một tỷ lệ vàng.


Ảnh: Horst P Horst

4 Nov 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!