Ở nơi nào có sự ước lệ, ở đó tồn tại một không gian cho sáng tạo và nghệ thuật.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

NHẬN THỨC KHÔNG GIAN

🍏 Bạn muốn với một quả táo trên bàn. Các cơ tay được truyền lệnh phải co rút, khuỷu tay đã với về phía trước rồi bàn tay nắm lại. Khoan, một ai đó đã đo trước khoảng cách tới trái táo? Thị giác giải quyết rất tốt các nhiệm vụ trong không gian, nhờ đó chúng ta định hướng được trong thế giới ba chiều.

“Mắt thẩm thấu vào tương lai, bởi vì nó đưa ra tín hiệu về những vật ở xa” (Richard Gregory).

André Kertész

Chúng ta đang tiến sát lại một vấn đề hấp dẫn: bằng cách nào chỉ bằng cái nhìn mà xác định được độ xa của sự vật, mắt nhận thức không gian như thế nào? Bản thân vấn đề nằm ở chỗ, võng mạc có thể coi là phẳng khi tiến sát lại.

Vậy độ xa gần như thế không thể xác định trực tiếp được bằng mắt. Hơn nữa, mỗi một hình ảnh trên võng mạc chỉ tương ứng với một số lượng vô hạn của các điểm sắp đặt sự vật trong không gian. Mô hình một con tàu đang cách ta một mét và bản thân con tàu đang cách xa một ki lô mét vẫn được vẽ bằng thuỷ tinh thể y hệt như nhau với cùng một kích thước . Vậy ta nhận được thông tin về khoảng cách như thế nào?

Thông thường những dấu hiệu sau được nêu ra:
- Sự thoả hiệp của thuỷ tinh thể, biết chịu thay đổi kích thước của mình nhờ vào các lực ép vào trong mắt – hoạt động trong khoảng cách từ 2-3 mét.
- Sự hội tụ của mắt – sự điều hướng trục của chúng khi nhìn sự vật ở một khoảng cách nhất định – hoạt động trong khoảng từ 10-12 mét.
- Sự chênh lệch song nhãn – hiệu ứng stereo có được là nhờ có sự tồn tại của cả hai con mắt.
- Sự phân trục của chuyển động (parallax movement) – hiệu ứng này sẽ xuất hiện khi người quan sát hoặc bản thân đối tượng được quan sát chuyển động, và hình ảnh trên võng mạc thay đổi theo cách tương ứng.

Hãy luyện tập như sau. Bạn hãy nhắm cả hai mắt lại rồi nhờ một người bạn dẫn bạn tới một căn phòng không quen thuộc, sau đó bạn mở chỉ một mắt rồi đưa tay thử với một đồ vật nào đó. Hầu như điều này không thể thành công ngay. Thị giác kiểu ống nhòm được tạo hoá ban tặng chính là một công cụ chính xác để xác định khoảng cách.
Nhưng tất cả những dấu hiệu này chỉ hoạt động trong khoảng cách gần. Khi tăng khoảng cách đến đối tượng, chúng ta cần những dấu hiệu khác.
Tuy nhiên, một bức ảnh ở triển lãm chúng ta thường nhìn ở khoảng cách từ 1-3 mét. Khi đó một phần các dấu hiệu đã kể ở trên sẽ mất tác dụng. Và phần còn lại sẽ “nhìn thấy” bức ảnh thành hoàn toàn phẳng.
Những cơ cấu nói trên giúp não nhận biết được khoảng cách tới đối tượng. Nhưng điều gì mới ép chúng ta nhận thấy chiều sâu của không gian? Bởi, giả sử chỉ cần nhìn một loáng vào mặt biển là đã đủ nhận ra sự vô hạn và sự trải rộng vô kích thước của nó!


Đã từng được nói rằng, không gian ba chiều được tạo ra bằng sự nhỏ dần của nhãn thực đối với tính chất của một bề mặt (khuynh độ cảm nhận, En: perceptual gradient). Những thứ thay đổi có thể là kích thước của những vật thể đồng nhất, cũng như khoảng cách giữa chúng, và cả màu sắc, độ toả sáng, độ được chiếu sáng hoặc độ nét của kết cấu. Trong hình minh hoạ 33-36 là những ví dụ về một số bề mặt. Tất cả chúng được coi là hội tụ về phía xa. Thậm chí trong ví dụ cuối cùng còn thấy được cả sự khác nhau trong sự hơi nhô lên tại một chỗ và sự lõm sâu ở một chỗ khác.

Có thể là, thế giới ba chiều liên quan tới nhận thức về những bề mặt hội tụ vào chiều sâu, đặc biệt là bề mặt trái đất. Và điều cơ bản của nhận thức đó – sự thay đổi mật độ của kết cấu, ví dụ như của cỏ trên mặt đất. Sự thay đổi mật độ đều đặn – khuynh độ của mật độ - là nguồn thông tin cơ bản về độ nghiêng của một bề mặt.

KHÔNG GIAN TRONG MẶT PHẲNG

Vậy, tất cả những dấu hiệu đã kể trên sẽ bị vô hiệu hoá khi mắt nhìn vào một bức ảnh phẳng. Khi đó, trước hết sẽ có một điều gì đó ép chúng ta nhìn thấy không gian của hình ảnh. Trong quá trình cảm nhận một bức tranh hoặc một bức ảnh có một sự nghịch lý đáng ngạc nhiên – ta nhận ra sự hai chiều của chúng một cách dễ dàng, nhưng cũng chính trong thời gian đó chúng lại thể hiện tính ba chiều.

Nếu bức tranh hoặc bức ảnh được nhìn qua một đồng tử nhân tạo (một lỗ nhỏ trên một tờ giấy đen), ấn tượng về chiều sâu sẽ rất mạnh (bạn thử ngay đi). Tiện nói luôn, những người ngắm tranh sành điều thường làm như thế!

Vậy, bức tranh cần cần chứa đựng thông tin làm dấu hiệu thuyết phục về chiều sâu. Và thế là chúng ta đã tiến tới khái niệm “dấu hiệu biểu hình” về chiều sâu của tranh ảnh. Những dấu hiệu này là tiên phong. Ví dụ, để ngắm một phong cảnh, ta thử ngắm ảnh chụp nó. Tất nhiên, khi ngắm cảnh thật thì không thể loại trừ một số dấu hiệu nhận thức về chiều sâu: hiệu ứng stereo, co giãn thuỷ tinh thể, tính hội tụ trục nhìn và sự phân trục chuyển động (parallax movement).

Để nghiên cứu những dấu hiệu biểu hình của chiều sâu ảnh, hãy cùng xem xét các ví dụ đơn giản nhất, tránh cùng tồn tại nhiều hơn một dấu hiệu trong mỗi hình vẽ.




Hai đoạn thẳng ở hình 37 như nằm trong mặt phẳng của khung ảnh (của tờ giấy ảnh). Đoạn thẳng chéo ở hình 38, đối với nhiều người, như đang hướng về chiều sâu và sẽ gặp bề mặt chiều sâu ở một điểm nào đó. Hầu như ai cũng nghĩ tới một con đường hội tụ vào chiều sâu ảnh, nếu nhìn hình 39.
Điều này là ảo ảnh nhận thức biểu hình rất quan trọng đối với chúng ta. Hai đường thẳng hội tụ trong cùng một mặt phẳng tạo nên ấn tượng về hai đường song song gặp nhau ở cuối chiều sâu ảnh.

Chính Leonardo de Vinci đã viết ra luật phối cảnh tuyến tính này. Hai đường song song trên mặt đất của đời thực sẽ được quy chiếu lên võng mạc thành những đường gặp nhau ở một điểm nào đó. Điểm này nằm ở chân trời. Tuy nhiên tuyệt đối không được suy ra rằng, hình ảnh của hai đường hội tụ trên một mặt phẳng cần phải gây nên nhận thức về chiều sâu. Một lần nữa câu chuyện lại nói về ảo ảnh thị giác.

Hình ảnh chứa các dấu hiệu phối cảnh, - đó là mô hình của không gian được biểu hình. Không gian này được chúng ta tiếp nhận một cách logic, chứ bản thân thị giác kiểu "ống nhòm" khảng định luôn - trước mắt chúng ta là một bức ảnh phẳng.

"Điều chủ yếu nhất trong hội hoạ là các hình thể được thể hiện có vẻ như nổi khối, còn phông nền bao quanh cùng với sự tách xa có vẻ như hội tụ vào chiều sâu của bức tường, nơi một bức tranh như được gọi ra bởi ba phối cảnh, cụ thể là: sự nhỏ đi của hình thể, sự nhỏ đi của đại lượng đo chúng, và sự nhỏ đi (yếu đi) trong màu sắc của chúng. Trong ba phối cảnh này, cái thứ nhất xảy ra từ mắt, còn hai cái kia được thực thi bởi không khí nằm giữa mắt và vật thể được nhìn thấy bởi những con mắt này" - Leonardo vĩ đại đã viết như vậy.


Hình 40: Ta cảm thấy hình vuông nhỏ nằm xa hơn hình vuông to. Đây là phần thứ hai của định luật phối cảnh tuyến tính.

Hình 41: Ấn tượng không gian được biểu hiện mạnh mẽ hơn nhiều nhờ có sự mô phỏng mặt phẳng nằm ngang có hai cạnh bên hội tụ về phía chiều sâu.



Hình 42: Còn một ảo ảnh nữa, cho phép chúng ta áp dụng định luật phối cảnh sắc độ: Vật thể càng sáng hơn được xác định như là càng nằm xa hơn. Cần đánh dấu rằng ở ví dụ này không có dấu hiệu chiều sâu khác: hai hình vuông có kích thước như nhau và chỉ khác nhau về sắc độ ánh sáng.




Hình 43, 44, 45: Một lần nữa, khi ghép thêm các dấu hiệu chiều sâu, hiệu ứng gần-xa lại càng trở nên mạnh mẽ.


Hinh 46: Đây là ảo ảnh mô phỏng điều thứ ba mà Leonardo đã nói đến, cụ thể là về sự mờ đi của hình thù các vật ở xa. Cùng với sự tăng dần của khoảng cách là sự biến dạng của các chi tiết nhỏ như là kết quả của sự suy giảm thị lực, cũng như do sự cản trở của môi trường không khí. Trong hình 46 có một hình vuông với các cạnh mờ ảo, nó được cảm nhận là đang ở xa hơn.

Độ sâu vùng nét trong nhiếp ảnh (DOF) thường bị hạn chế - một tính chất của ống kính. Còn hội hoạ thì sao? Trong hầu hết các trường hợp, tất cả các lớp cảnh đều được vẽ sắc nét, điều đó không nhất thiết ở trong nhiếp ảnh, nơi thường chỉ có một vùng nét, nhiều khi không phải là tiền cảnh, mà là ở lớp lang phía sau. Nhìn chung, hiệu ứng này giống như hạn chế của mắt không thể đồng thời nhìn thấy sắc nét tất cả các sự vật xa gần khác nhau trong không gian.

Trong serie bài viết này, màu sắc không được nhắc đến, nhưng nên lướt qua kiểu "phối cảnh không khí" như Leonardo đã gọi tên. Cùng với sự tăng dần của khoảng cách tới sự vật, màu sắc của chúng sẽ bớt rực rỡ hơn, màu vẽ nhìn thấy của sự vật sẽ chuyển sang vùng sắc phổ xanh da trời.



Có lẽ, dấu hiệu mạnh nhất của chiều sâu không gian - đó là sự phân lớp tắc nghẽn (hay còn gọi là sự che lấp). Vật nằm gần hơn sẽ sinh lớp và che lấp một phần vật ở xa hơn. Chính bằng cách đó ta nhận thức quan hệ không gian trong hình 47. Còn bây giờ sự sắp xếp các vật thể được đi theo một cách khác trong hình 48. Nếu như ở trường hợp hình 47 ta thấy ba vật thể nằm trên một mặt phẳng vô hình, thì ở hình 48 chúng như bị "treo" trong không gian.


Đôi khi sự che lấp lại là một dấu hiệu chiều sâu duy nhất trong một bức ảnh. Cám ơn sự che lấp, vì nếu không có nó, nhiều lúc ta không thể định hình được nồi lẩu thập cẩm của thế giới (hình 49).

Còn một dấu hiệu chiều sâu nổi trội nữa - đó chính là bóng đổ. Ánh sáng và bóng tối tạo ra không gian riêng của mình và làm ra điều đó bằng phương pháp rất thuyết phục. Bóng đổ hùng hồn nói với ta về bề mặt nào đó và các vật xung quanh. Bản thân bóng đổ đưa ra khả năng tuyệt vời, nói nguyên văn là làm cho ta như sắp chạm được vào vật thể, cảm nhận hình thù và khối lượng của vật thể, xác định được mối quan hệ giữa chúng.

Thậm chí khi nguồn sáng không được chụp vào trong khung ảnh, đặc thù sắp xếp của bóng đổ, cái mà ta hay gọi là hiệu ứng chiếu sáng, vẫn luôn cho ta ấn tượng về không gian ảnh, lấp đầy không gian môi trường vật chất này bằng không khí, ẩn chứa vô vàn khả năng biểu hình.

Sự đậm nét của bóng đổ, tạo ra bởi những nguồn sáng mà khi đủ xa sẽ được coi là nguồn sáng điểm (hard light), như mặt trời, nguồn sáng nhân tạo không có phản sáng và hoà loãng ánh sáng, đèn chớp (flash), v.v..., - sẽ tạo ra những đường kích hoạt, và thường sẽ hướng về chiều sâu của không gian ảnh.

Tất cả các dấu hiệu biểu hình mà chúng ta đã liệt kê ở trên, tạo thành một yếu tố cực kì quan trọng - PHỐI CẢNH.


Để nói về đặc tính của phối cảnh, bạn hãy nhìn hình 50. Mặc dù các lá cờ xếp dọc theo đường tàu hoàn toàn giống hệt nhau về hình thù và kích cỡ, nhưng mắt ta lại cảm thấy chúng phình to dần lên, và đặc biệt là lá cờ cuối cùng như có một kích cỡ rất khủng. Vấn đề ở chỗ, ba lá cờ này được sắp đặt vào một không gian được thiết kế theo định luật phối cảnh rõ rệt. Sự hội tụ của hai đường ray, của hàng rào, sự nhỏ dần đều của những chi tiết đồng nhất, sự hiện hữu của điểm hội tụ nơi chân trời, tất cả các dấu hiệu chiều sâu đó đang cãi nhau với sự vắng mặt trong những thay đổi phối cảnh của ba lá cờ. Ảo ảnh này cũng tạo ra một ý nghĩa hay ho: Nếu quy đổi hệ nhận thức ảnh thành một tờ giấy phẳng, khi đó ba lá cờ sẽ y hệt như nhau. Còn, nếu muốn tiếp thu bức ảnh thành ảnh có chiều sâu, khi đó lá cờ càng xa càng to ra hãi hùng. Tranh ảnh chỉ là quy ước một cách tương đối, vì vậy hai hệ quy chiếu nói trên bất phân thắng bại.

Trong bức tranh đường tàu, sự che lấp không được thể hiện rõ ràng. Những lá cờ với kích cỡ như nhau, che lấp những phần không như nhau của phông nền. Từ đó sinh ra cảm giác to dần đều của ba lá cờ.

Vậy, chúng ta đã liệt kê được tất cả các dấu hiệu phối cảnh quan trọng nhất, nhờ đó có thể nhận thức được không gian chiều sâu của bất kì hình ảnh phẳng nào, trong đó có cả nhiếp ảnh. Tất cả những phương pháp truyền tải chiều sâu không gian đã kể, suy cho cùng, cũng chỉ là hệ quả của kinh nghiệm nhận thức không gian của thế giới thực, và tất cả chúng gây ra ảo ảnh về chiều thứ ba trên một bức ảnh chỉ có hai chiều.

Biết và biết cách ứng dụng những dấu hiệu biểu hình của chiều sâu, người chụp ảnh có tâm sẽ tổ chức không gian theo cách của riêng mình, tăng hoặc giảm sự cám dỗ của nó, làm cho nó kéo giãn, co cụm, hoặc biến dạng (hình 51). Có thể tưởng tượng ra những bức ảnh, trong đó nhiếp ảnh gia cố tình làm giảm suy sự phối cảnh, hoặc thậm chí còn làm ngược lại.

Phương pháp truyền tải không gian, tất nhiên, còn phụ thuộc vào bài toán mà nhiếp ảnh gia đặt ra cho mình. Với ý nghĩa này, những luật phối cảnh không bao giờ là GIÁO ĐIỀU, và được áp dụng trong mọi tình huống của cuộc sống. Đi theo những luật này phải sáng tạo. Để đạt được điều đó, cần phải thuộc lòng chúng, ứng dụng linh hoạt trong những bức ảnh dấu hiệu này dấu hiệu kia hoặc cả vài dấu hiệu, và đôi khi còn phải chiến đấu với bọn chúng.


9 Sep 2017


1

Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!