Nhiếp ảnh gia vĩ đại chụp cũng nhiều như nhiếp ảnh gia vĩ trung bình. Bù lại, người thứ nhất biết xóa ảnh theo cách vĩ đại.
MiukaFoto 
(born in 1972)

SỰ NGU NGỐC CỦA MẮT NGƯỜI

Mắt người – đó là tạo hoá tuyệt đỉnh của thiên nhiên, ấy thế mà nó lại dễ bị đánh lừa nhất. Để lấy ví dụ, hãy xem những hình ảo hình thị giác (ảo ảnh). Hiện tượng này xuất hiện từ ngàn xưa, tuy nhiên đến bây giờ vẫn chưa có sự hiểu biết rõ ràng nó sẽ xuất hiện vào khi nào và vào lúc nào. Nhìn chung, có vài trạng thái đối lập nhau nào đó mà mắt luôn luôn muốn nhảy vào, và nó mất khả năng tập trung vào một việc gì đó cụ thể.


Hãy nhìn vào bức tranh của Edgar John Rubin (hình 14), chúng ta thấy gì? Hai mặt người nhìn nghiêng, hay lọ hoa? Hãy tập trung hơn tí nữa, sẽ lần lượt xuất hiện hoặc nọ hoặc kia, ý nghĩa của bức hình như đảo lộn, tráo động. Con mắt không thể xác định được đâu là phần hình thù, đâu là phần nền phía sau.

Khối lập phương của Louis Albert Necker (hình 15) lại liên quan đến sự tiếp nhận không gian không nhất quán. Khi chằm chằm nhìn vào nó, hình thù này như biết “tự xoay”, trục không gian của nó thay đổi sang các chiều khác nhau. Não thử cả hai phương án, không dừng lại nhất quán ở đâu cả.


Lại thêm một ảo ảnh của Rubin, mắt mất khả năng nhìn thấy đồng thời hai mặt người trên cùng một mặt phẳng. Chúng ta nhìn thấy chỉ một mặt người mà thôi, còn cái kia biến thành nền vào lùi xa ra đằng sau (hình 16).

Đó chính là kết quả của ảo ảnh, và còn rất nhiều ví dụ khác nữa, đang nói đến sự thiếu hoàn thiện của mắt người, về bản năng GỢI Ý của nó.

Tuy vậy , khiếm khuyết này, hay nói cách khác - là tính sẵn sàng bị lừa dối của mắt, - lại giúp chúng ta nhìn thấy nổi khối không những thế giới thật, mà còn hình ảnh của chúng trên mặt phẳng. Sự tiếp thu mặt phẳng ảnh như không gian ba chiều – có thể kiêu hãnh nói rằng - đó là một ảo ảnh đáng ngạc nhiên mà mắt người có được.



Mảng hình màu đen nằm trên mặt phẳng giấy lại có vẻ có kích thước chiều thứ ba, được nhận biết như đang nằm trong một không gian (hình 17).

“Một bức tranh bất kì luôn luôn là một nghịch lý giác quan. Nếu như sự vật luôn là chính nó, thì chỉ có các bức tranh mới có tính hai mặt, và vì thế, chúng là nhóm đặc thù độc nhất chứa các đối tượng nghịch lý. Không một sinh vật nào khác ngoài con người có khả năng tạo ra (và có thể còn cả tiếp nhận) các bức tranh và những biểu tượng bất kỳ nào khác”, - nhà tâm lí học Richard Gregory đã nói như vậy. Và nữa: “…nhưng đối tượng, được nhìn thấy trong tranh, không nằm ở nơi có mặt phẳng tranh, và chính vì vậy nó có một kích thước và khối lượng hoàn toàn khác”.


Hãy nhìn hình 18. Xuất hiện cảm giác hình như mặt đất bị nghiêng, còn mặt phẳng của màn hình (thiết bị mà bạn đang dùng để đọc bài viết này) vẫn ở lại đúng chỗ của mình. Hình ảnh bị giới hạn bởi khung – có vẻ như thụt sâu vào không gian và có kích thước chiều thứ ba. Trong khi đó, chúng ta vẫn hiểu được, đó chỉ là ảo ảnh, trước mắt chúng ta chỉ là cái màn hình iPhone, iPad, laptop… chứ không phải một cái cửa sổ chứa đựng một không gian căng sâu vào phía xa. “Những bức tranh có sự tồn tại hai mặt. Trước hết – đó chỉ là sự vật có thể sờ thấy được, là những khu hẹp trên các tờ giấy phẳng, nhưng cùng lúc đó, mắt nhìn thấy những đối tượng hoàn toàn khác nằm trên chúng. Khu hẹp nói trên được tạo thành từ những vết bẩn, đường nét, điểm, mảng màu hay là những hạt grain ảnh. Những phần tử này không tồn tại độc lập, mà lại gắn vào một cái gì đó, như khuôn mặt, ngôi nhà, hay con tàu tròng trành trong bão tố biển khơi.

Các bức tranh là một lớp nhóm (class) đặc biệt của các sự vật – bởi vì chúng vừa tự được nhìn thấy, như không phải bất kì thứ gì khác, ngoài là bản thân tờ giấy được dùng để vẽ tranh. Các bức ảnh cũng đồng thời là nghịch lý, là lừa tình. Không có một vật thể nào vừa hai chiều lại vừa ba chiều, không có vật thể nào vừa nằm ở chỗ này lại vừa nằm ở chỗ kia. Thế mà chúng ta lại nhìn tranh ảnh bằng đúng cách đó. Bức tranh hoàn toàn có một kích thước to nhỏ nhất định, đồng thời chúng lại chỉ ra được kích thước chuẩn của mặt người, nhà cửa hay tầu bè.

Những bức tranh là BẤT KHẢ THỂ” - Richard Gregory đã khảng định như vậy.

Để có thể tận dụng chiều sâu ảo tưởng của nhiếp ảnh, học cách điều khiển nó, cần phải phân tích nguyên nhân nào đã tạo ra ảo ảnh không gian, hiểu được điều gì đã ép buộc mắt chúng ta nhìn một mặt phẳng thành không gian có chiều sâu.

Có một điều rất quan trọng là chúng ta phải đánh dấu được sự khác nhau có tính nguyên lý, giữa - sự cảm nhận có tính không gian của những ảo ảnh không nhất quán, - và, - sự cảm nhận hình ảnh. Đối với tranh ảnh, chúng ta ĐỒNG THỜI (điều này rất quan trọng) cảm nhận vừa cả mặt phẳng chất liệu (giấy vẽ, vải vẽ, giấy ảnh), vừa cả sự vật trong không gian.

Trong chúng ta như là đang tồn tại hai sự cảm nhận hiện thực một cách riêng biệt: Một bên có tính thị giác, vô thức, biểu cảm, - một bên, ngược lại, - là ý thức thực dụng và logic.

Khi tiếp thu mặt phẳng hình ảnh (tranh hoặc ảnh), có thể gọi chính sự tiếp nhận giác quan đó là khách quan thụ động. Nó chỉ ra những gì được thể hiện trên chính bức tranh: những mảng miếng hình học phẳng, vết bẩn sắc độ hay màu sắc. Chúng ta cũng nhìn thấy những vết bẩn hay mảng miếng đó không những trong không gian ba chiều, mà còn nhìn thấy hiện thực như con người, nhà cửa hay mây mưa. Vậy nếu bức ảnh không được nhìn thấy một cách nhất quán, kẻ có lỗi không phải là bức ảnh, mà là sự tạo dựng không biết cách tìm thấy lối thoát từ tình huống chụp ảnh. Những bức ảnh như thế thường tiếp nhận cả hai phương án, hoặc thường thấy nhất là chỉ một phương án nhầm lẫn.

Hai trạng thái tiếp nhận hình ảnh như đã nói ở trên cũng giống như hình bát quái âm dương, chúng không thể nào thiếu nhau, dù luôn có cảm giác rằng cái này chống lại cái kia và thường xuyên xảy ra xung đột, rồi đề xuất ra những phương án không thể chấp nhận. Đôi khi Âm được đưa ra tiền cảnh, đôi khi lại là Dương; trong trường hợp nào đó chúng tìm thấy thoả thuận; trong tình huống khác chúng lại đánh nhau dữ dội để tranh giành, rồi đẩy người xem vào tình thế hai mặt khi tiếp nhận ảo ảnh.


Thật may mắn, khi nhìn hình bát quái ta lại cảm thấy một sự hoà hợp trong tổng thể, giống như tiếp nhận một nhiễu hình gì đó trên mặt phẳng ảnh. Và xung đột giữa chúng lại trở thành nội dung của bức ảnh đó.

Mắt chỉ cung cấp thông tin về hình ảnh cho não, và chính bộ não mới là nơi tạo nên sự phân tích và kết luận về bản chất của sự vật được nhìn thấy, của vị trí của chúng trong không gian. Trong nhiều trường hợp, não còn chỉnh lý thông tin, ví dụ như về kích thước của những đối tượng nằm rất xa nhau hoặc rất gần nhau và cả về hình dạng của chúng nữa. Vậy thường thấy, khi mắt nhìn thấy một thứ, nhưng não lại "đọc thấy" một thứ hoàn toàn khác.

Trong hiện thực thường xuất hiện tính không nhất quán của cảm nhận, của ảo ảnh. Tuy nhiên khi ngắm nhìn một bức tranh hay một ảnh phẩm, tính không nhất quán đó lại mặc định có trong tiềm thức: Nó vừa là phẳng, vừa là không gian ba chiều.


Có thể mô phỏng hiệu ứng ảo ảnh chiều sâu của mặt phẳng ảnh (xem hình 19).

Lấy ví dụ hai mảng miếng đơn giản nhất: hai hình tròn, một to, một nhỏ (hình 19.I). Hình tròn nhỏ được nhìn như đang ở xa hơn, vì nó bị nhỏ đi. Vậy, có thể xác định được vị trí "thực sự" của nó trong không gian hay không?

Giả sử hình tròn to nằm trên tờ giấy 19.I, bây giờ ta lấy một tờ giấy khác (19.II) và vẽ một hình tròn to đúng bằng nó. Sau đó, ta đẩy dần tờ giấy 19.II lùi xa dần về phía đằng sau, sao cho hình tròn to biến thành hình tròn nhỏ về kích thước (xem hình 20).

Với những kích thước đã đưa ra trong ví dụ, độ xa ảo ảnh của hai tờ giấy có giá trị đúng bằng khoảng cách từ tờ giấy tiền cảnh tới mắt khán giả!

Ví dụ trên cho thấy ảo ảnh chiều thứ ba của không gian mạnh mẽ đến mức nào. Vâng, nó xuất hiện như một hệ quả của kinh nghiệm nhìn những hiện vật ở xa mắt trong không gian. Mắt chúng ta - thứ rất dễ bị lừa!


6 Sep 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Hashtags:
Âm dươngẢo ảnh
 

Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!