Cần nhìn thấy thứ không có, nhưng có thể có, nếu như có một cái gì đó cũng không có.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)

NHỊP ĐIỆU VÀ CHUYỂN ĐỘNG.

Trong ảnh luôn luôn có một vài đường nét, trọng lượng và hình thù, được chụp ra mạnh mẽ hơn, và, ngoài ra, còn có những mảnh bị chia cắt ra nhỏ li ti. Chúng có thể được liên kết lại với nhau bằng nhịp điệu. Nhịp điệu - đó là sự lặp đi lặp lại có quy tắc của những chi tiết như nhau hoặc giống nhau, cũng như của khoảng cách giữa chúng. Trong nghệ thuật tạo hình điều này thường được thấy ở sự lặp lại của các chi tiết tương đồng, và trong quá trình xảy ra sự khác nhau đó chúng khác nhau bởi một số dấu hiệu sau: màu sắc, đường nét, hình thù cũng như kích thước và hướng, vân vân. Đó là sự đồng âm đồng điệu, sự giống nhau, đồng thời lại có sự khác nhau tinh tế giữa các chi tiết.

Nhịp điệu được cảm nhận khi mắt chúng ta lần lượt có trình tự nhìn theo một chuỗi có tính chất nhịp. Chuyển động luôn luôn xuất hiện bởi nhịp điệu. Để hô biến một bức ảnh thành ảnh có nhịp, cần ít nhất ba sự lặp lại: điểm dừng thứ hai cho chúng ta cảm nhận về quy tắc nhịp, điểm dừng thứ ba - khẳng định sự chờ đợi của nguyên tắc đó.

Trường hợp riêng của nhịp điệu, đó là cái thước - sự lặp lại đơn giản nhất bởi các vạch chia. Nhịp điệu không bao giờ bị gắn chặt vào cái thước, vì thế nó sống và chuyển động.


NHỊP ĐIỆU - đó là sự THỐNG NHẤT sự PHÂN DẠNG vào với sự ĐA DẠNG, đó là xung đột được giải toả có chu kì giữa cái đang được đợi và cái đã xảy ra, và hơn thế nữa, - sự hồi hộp rất đặc thù khi nhịp điệu bị "nổ tung" bởi sự phá vỡ nó.

Sự phân dạng của nhịp điệu bằng cách này hay cách khác đang ảnh hưởng tới đời sống của con người - nhịp tim, nhịp thở, sự thay đổi ngày và đêm, năm và tháng, chu kì các pha thay đổi của mặt trăng, xuân hạ thu đông. Ví dụ nữa, một ngày của tôi như sau: Sáng dậy đáng răng, ăn sáng, đi làm, ăn trưa, lại làm, ăn tối, xem tivi, đi ngủ, rồi chu kì đó cứ lặp đi lặp lại. Đó cũng là một loại nhịp điệu.

Trong nghệ thuật cũng có đủ loại nhịp điệu, bắt đầu từ nhịp bộ gõ, bước quân ca, cho đến nhịp điệu của âm nhạc và thi thơ. Nhịp điệu ảnh hưởng rất trực cảm. Âm nhạc có thể làm thay đổi nhịp thở của người nghe, và thậm chí còn làm họ bị co cơ. Khi cảm nhận bằng cái nhìn của mắt, sẽ xuất hiện cảm giác ép quan về nhịp điệu. Cảm giác nhịp - một quá trình kích hoạt, bạn sẽ bị nó "lôi cuốn", và bạn sẽ có ý thức về một cái thước vô hình đang trốn bên trong nó.

Trong âm nhạc, thi ca, khiêu vũ, lao động chân tay, nhịp điệu được thấy một cách trực tiếp. Còn trong nghệ thuật tạo hình, đó là - thời gian thưởng thức hình ảnh. Một ví dụ đơn giản nhất, sắp xếp các chi tiết của nhịp điệu vào một đường tuyến tính và đọc chúng từ trái qua phải. Hàng thứ nhất gợi cho ta nghĩ tới một hàng quân sắp xếp theo chiều cao giảm dần, hàng thứ hai - sự liên kết loạn xạ của những người đi bộ cuối tuần ở quanh Hồ Gươm, hàng thứ ba - quá trình chia tay quyến luyến của anh lính với người yêu trước khi ra mặt trận, hàng thứ tư - sự tranh thủ trốn vợ đi chụp ảnh (hình 288).

288.

Một ví dụ cổ điển về nhịp điệu - bức tranh "Những người mù" của hoạ sỹ Pieter Bruegel the Elder. "Những người mù kéo nhau xuống hố. Hình lập đã liên kết sáu hình thể lại với nhau. Họ nghiêng dần, nghiêng dần và, cuối cùng thì họ ngã. Trong bức tranh này đã thể hiện lần lượt từng bước của một và chỉ một quá trình: sự bị bỏ rơi, sự vô vọng, sự lo sợ, sự trì hoãn và, cuối cùng họ ngã xuống" (Rudolf Arnheim - một tác giả tâm lí học đã nhận xét như vậy). Nhịp điệu được nhìn nhận trong một sự phát triển có thứ tự, từ phương thẳng đứng cho đến sự nghiêng đổ dần từ trái qua phải (hình 289).

289.

Một vài mảng có hình dạng giống nhau, liên tục thay đổi giá trị diện tích hoặc sắc độ, sẽ cho chúng ta một chuyển động từ to đến nhỏ, từ đậm đến nhạt (điều này liên quan tới thói quen nhìn nhận bố cục). Trong một nhịp điệu tuyến tính, mắt ta luôn luôn chuyển động về hướng tăng cường của sự thay đổi. Có thể là chuyển động về tâm của bố cục, hoặc là từ cạnh của khung ảnh đến trung tâm hình học, hoặc đến điểm nhấn tâm lý, vân vân. Trong mọi trường hợp luôn luôn tìm ra nguyên lí, mắt ta luôn chọn được hướng, và nhịp điệu luôn luôn sống động (hình 291).

Chuyển động, được kích hoạt bởi một chuỗi có tính nhịp - mang một tính chất cực kì thú vị sau đây: Khi di chuyển lần lượt dọc theo chuỗi từ chi tiết này sang chi tiết khác, chúng ta ngầm gán cho chúng những giá trị thời gian theo thứ tự. Đồng hồ như bị ủn kim nhích dần. Bằng bản năng bí mật đó, dường như mắt chúng ta ép buộc những hình thù xoay động theo chiều kim đồng hồ (hình 292).

Hình 291, ví dụ về chuyển động phân dạng, sự liên tục của chuỗi bị phá vỡ, nhưng kể cả trong trường hợp đó, nhịp điệu vẫn được tổ chức theo một quy tắc không đổi.

291.

Cần nói thêm rằng: sự hoàn tất của một chuỗi nhịp - đó là điều kiện kết thúc của một bố cục. Chuỗi có thể dẫn đến vô định, nhưng cũng có thể dẫn đến một thứ gì đó. Nhịp điệu - có lẽ là - chủ đề bố cục phức tạp nhất trong nhiếp ảnh có thể diễn tả được bằng lời. Nếu so sánh các tác phẩm nghệ thuật với một cơ thể sống, thì nhịp điệu - đó chính là huyết nhịp, đó chính là hơi thở. Trong một bức ảnh có nhịp, tất cả các chi tiết như đang động đậy, dịch chuyển, xô chen, nhịp điệu - luôn luôn là sự phát triển, thúc giục, toả sóng. Nếu như về cái thước ta có thể nói rằng, đó là "sự giống nhau trong phân dạng, thì nhịp điệu - đó là sự phân dạng trong sự giống nhau" (Emile Jaques-Dalcroze - nhà soạn nhạc và nhà giáo người Thuỵ Sỹ). Nhịp điệu cũng có thể định nghĩa như "tổ chức cách đập nhịp". Nhịp điệu tổ chức ra một quá trình cảm nhận hình ảnh, chia nó ra thành nhiều điểm dừng khoảnh khắc, mà thứ tự được nhìn của chúng được coi như cách bắt đầu một tác phẩm âm nhạc. Nhịp điệu - đó chính là nơi để sự căng thẳng và sự thư giãn thay phiên nhau hành hạ người xem, hay nói cách khác, những xung đột thay đổi liên tiếp (xem ảnh của Andre Turpin).

292.

NHIẾP ẢNH VÀ CHUYỂN ĐỘNG

Một bức ảnh luôn luôn là sự dừng lại của chuyển động, nó không thể cho thấy một chuyển động thực tế, trên cú chụp sẽ là một thời điểm duy nhất của một pha trong chuyển động (xem ảnh "11/9 falling man"). Bù lại, từ khi nhiếp ảnh ra đời, người ta đã có thể truyền đạt một cách mô phỏng sự chuyển động của con người và muôn thú. Nhiếp ảnh gia Eadweard Muybridge đã làm điều này từ cuối thể kỷ thứ XIX. Chính ông là người đầu tiên đã chụp ảnh chuyển động của một con ngựa và đã chứng mình rằng, pha chuyển động như trong bức tranh của Gericault là không tồn tại (xem hình).

293.

"Tôi trộm nghĩ rằng Gericault đã đúng, chứ không phải là nhiếp ảnh, những con ngựa của ông í mới là đang thực sự phi" - Auguste Rodin lại bênh vực hội hoạ. Và sau đó ông được Alphonse Daudet hưởng ứng: "Một bức ảnh tức thì chỉ có thể đưa ra một hình ảnh lừa dối. Hãy chụp một người đang rơi, bạn sẽ chỉ đưa ra được một khoảnh khắc của sự rơi, chứ không phải bản thân sự rơi". Trên thực tế, người đang rơi trong bức ảnh đang bất động. Nghịch lí này vào thủa ban đầu đã công kích sự đánh giá ưu điểm diễn đạt của những cú chụp tức thì. Người đang rơi bị cuốn vào một chuyến bay nghiệt ngã. Ta có thể nhìn rõ mặt của anh ta hay không, phải thú vị hơn là một cú chụp tức thì chứ? Rất tiếc, trong cuộc sống chúng ta không có khả năng soi kỹ điều này, chỉ có thế nhìn thấy nó trôi qua rất nhanh.

Nhưng thật may mắn, nhiếp ảnh dần dần học được cách thể hiện bản thân quá trình chuyển động, thậm chí còn làm bằng cách không kém phần biểu động khi so sánh với hội hoạ. Và đó không chỉ là ý tưởng chụp nhiều pha liên tiếp của chuyển động trên cùng một cuộn phim (ý tưởng này được điện ảnh nắm bắt ngay lập tức).

Cách chụp ảnh để mô phỏng chuyển động được ra đời, cần phải nghĩ rằng, đó là nhờ công của lỗi lầm kỹ thuật. Một ai đó trong lúc chụp chuyển động đã quên giảm độ trễ của màn chập, và chủ thể trên tấm phim đã bị nhoè. Và, một người khác đã bị cuốn hút theo chuyển động, vô tình lia máy ảnh đi theo hướng đi của chiếc ô tô. Cách chụp thứ nhất - đó là sự nhoè - máy ảnh đứng yên và độ trễ màn chập đủ lớn để chủ thể chuyển động trong quá trình ăn sáng. Cách chụp thứ hai - chụp lia (panning) - độ trễ màn chập ít hơn, nhưng không tức thì, chủ thể dịch chuyển, và cũng theo hướng đó máy ảnh lia theo. Cách thứ nhất làm chủ thể nhoè trên nền nét, còn ở cách thứ hai - chủ thể tương đối nét, còn nền ảnh bị nhoè.

Các bạn chắc đã biết điều này từ lâu. Nhưng sau đây mới là điều thú vị đáng yêu nhất của nhiếp ảnh: làm cách nào để trong một bức ảnh hoàn toàn nét căng ta vẫn cảm nhận được sự chuyển động, ấn định cho nó dịch chuyển về một hướng bất kì, từ dưới lên trên, từ phải qua trái...?


Trong bức tranh của Gericault, trung tâm bố cục nằm ở phía bên phải. Đó là những mảng sáng hai con ngựa và hai chàng kỵ sỹ, cũng như, không kém phần quan trọng, là cái cọc sáng đứng thẳng đứng. Đường chéo của đám mây đen cũng hướng mắt ta sang bên phải trước tiên. Từ sự đồng thuận với điều đó, chúng ta bắt đầu xem ảnh từ phải qua trái, đúng theo ý đồ của hoạ sỹ. Kết quả đạt được là, những con ngựa của Gericault sống dậy và chuyển động, một khi mắt ta còn di chuyển sang trái, luân hồi từ pha này đến pha khác trong ý đồ hướng nhãn mà hoạ sỹ đã ép buộc chúng ta. Tóm lại, mắt ta khi chuyển động loanh quanh trong khung ảnh, sẽ xô ủn các vật thể có trong ảnh (ngựa của Gericault, ô tô trên đường chéo).

Cái gì ép buộc mắt ta chuyển động? Trước tiên là những đường kích hoạt, trong đó có cả những ánh nhìn của các nhân vật. Gì nữa nhỉ? Còn cả sự liên kết giữa các mảng miếng, sắc độ và hình thù. Từ những miếng to hơn, sáng hơn, chúng ta chuyển tới những miếng bé hơn. Đây cũng là chuyển động nhé, và nó được tạo ra bởi bố cục. Một chuyển động mạnh - một chuỗi có nhịp điệu với kích thước và sắc độ giảm dần - đã được tìm hiểu. Khi có sự sụt giảm mạnh so với kích thước ban đầu, một chuỗi như thế luôn có xu hướng chìm dần vào chiều sâu của mặt phẳng ảnh. Để đỡ hại não, chỉ cần nhớ như sau: Một đường kích hoạt có hướng bất kì đều khêu gợi cảm giác về chuyển động. Đường chéo là thứ kích hoạt chuyển động mạnh nhất, và chuyển động đó thường hướng vào chiều sâu không gian ảnh, đặc biệt khi nó hướng vào trung tâm hình học của ảnh cùng với một vài đường chéo khác. Thậm chí có những thứ dường như phi vật chất, giả dụ như tia sáng, cũng là một đường kích hoạt và gợi ra một chuyển động từ phía nguồn sáng, giống như trong tự nhiên. Ánh sáng cửa sổ đi theo đường chéo từ phải qua trái làm nên liên kết giữa phần phải và phần trái bức ảnh, tạo thành một thể DUY NHẤT (xem ảnh cô gái bên cửa sổ).

Werner Bischof

Andre Turpin


Elena Lapina

31 Aug 2017


Cảm ơn bạn đã đọc. Hãy Đăng ký một tài khoản để nhận tin bài mới từ MiukaFoto. Thank you!




Back to List

Bạn muốn để lại lời nhắn? Hãy đăng nhập nhé <3!