Ở nơi nào có sự ước lệ, ở đó tồn tại một không gian cho sáng tạo và nghệ thuật.
Aleksandr Lapin 
(1945 - 2012)



DIỆN MẠO ¹

Tôi nhìn vào đồ vật. Tôi thấy thế giới xung quanh tôi. Biểu ngữ này ám chỉ cho điều gì? Trong cuộc sống thường nhật, quan sát, hay nhãn quan, là, theo bản chất, — phương tiện định hướng thực tế. Có nghĩa, mắt người định hình những đồ vật nào đó đang nằm trong một vị trí nào đó. Đó là một sự thừa nhận dựa vào những dấu hiệu không đáng kể. Anh chồng chui vào chăn ngủ trong đêm tối. Anh ta nhận ra một mảng tối trên nền chiếc gối trắng. Trong ý nghĩa này, anh ta «nhìn thấy» rằng, cô vợ đang nằm tại vị trí quen thuộc của mình. Khi có ánh sáng tốt hơn, tất nhiên, anh ta cũng sẽ nhận ra nhiều hơn, nhưng về nguyên tắc, để định hướng chỉ cần đúng một lượng tối thiểu của gợi ý và các kích thích thị giác.


QUÝ BÀ CÉZANNE TRÊN CHIẾC GHẾ MÀU VÀNG

Sau khi cung cấp những tư liệu lý thuyết dài dòng, tôi thiết nghĩ, cần đưa ra một dẫn chứng cụ thể để bảo vệ phương pháp của mình. Tôi đã cố ý chọn bức tranh này, thoạt tiên nhìn có vẻ đơn giản, đẹp đẽ, nhưng, rất có thể, nhạt nhẽo, — một tác phẩm, mà các khán giả thường không bỏ ra nhiều thời gian để ngắm nhìn nó trong các bảo tàng nghệ thuật. Để lột tả được sự giàu có thẩm mỹ của tuyệt tác này, phân tích của tôi buộc phải là rất chi tiết.


CÂN BẰNG VÀ LÝ TRÍ

Cho đến thời điểm này, tôi đã mô tả sự cân bằng như một phương tiện để loại bỏ sự bất định và triệt tiêu sự rời rạc của mô hình thị giác, có nghĩa như một phương tiện tối cần thiết, cho phép hiểu được một hình ảnh mỹ thuật. Đó không hoàn toàn là một quyết định rẻ rúm, bởi vì một sự diễn giải phổ biến hơn của vấn đề này nằm ở chỗ, hoạ sỹ cố gắng đạt được sự cân bằng trong một tác phẩm nghệ thuật là để — thoả mãn chính mình. Vậy thì tại sao sự cân bằng mỹ thuật lại là nhu cầu bản năng? Bởi vì nó kêu gọi sự đáp ứng để có được cảm giác dễ chịu, đó là khảng định của chủ nghĩa khoái lạc, thứ sẽ xác định động lực của con người như một bước cố gắng tiến tới sự hoan hỉ và tiết chế các cảm xúc khó chịu. Ngày nay có một điều đã trở thành hiển nhiên, học thuyết thần thánh muôn thuở về sự cân bằng là đúng đắn, nhưng lại là — vô ích. Nó giải thích cho tất cả mọi thứ, nhưng đồng thời, — chẳng giải thích cho thứ gì cả, vậy khi đó chúng ta cần biết, tại sao một tình huống xác hoặc một hoạt động nào đó lại tạo ra cảm giác hân hoan.


TRÁI VÀ PHẢI

Một vấn đề khó khăn sẽ xuất hiện liên quan tới sự bất đối xứng của bên trái và bên phải. Tôi sẽ đụng chạm tới vấn đề này chỉ trong phạm trù cân bằng thị giác tâm lý. Một nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, Heinrich Wölfflin, đã hướng sự chú ý tới một dữ kiện, khi bức tranh được đối ảnh trong gương, thì không những hình thức bề ngoài bị thay đổi, mà ý nghĩa của bức tranh cũng bị mất đi. Wölfflin cho rằng, điều đó xảy ra do thói quen «đọc» tranh từ trái qua phải, còn khi đảo ngược thứ tự, nhận thức về nó cũng bị thay đổi. Wölfflin nhận thấy, hướng của đường chéo đi từ góc dưới bên trái tới góc trên bên phải được nhận thức như là thịnh vượng, thu nạp đỉnh cao, trong khi hướng của đường chéo còn lại là giảm suy. Một vật ảnh bất kỳ sẽ có vẻ nặng hơn nếu nó nằm bên phải trong bức tranh. Chẳng hạn, nếu nhân hình của thầy tu trong bức tranh của Raphael «The Sistine Madonna», chúng ta lật ảnh bên trái sang bên phải theo kiểu đảo chiều, thì nhân hình này sẽ trở thành quá nặng, đến nỗi tác phẩm trong tổng thể sẽ bị lộn tùng phèo (hình 16).


TRÊN VÀ DƯỚI

Như đã thấy, phần bên dưới của một mô hình nhận thức thị giá đòi hỏi một trọng lượng lớn hơn. Có thể có hai con đường: hoặc gán cho phần dưới một trọng lượng đủ lớn để toàn bộ mô hình vỏ vẻ cân bằng, hoặc gán cho nó một trọng lượng nhảy vọt, để chân đế nhìn nặng hơn nhiều so với phần trên. Herbert Sidney Langfeld nói: «Nếu đề nghị ai đó, không được dùng bất kì phép đo nào để chia một đoạn thẳng đứng ra làm đôi, thì điểm chia của anh ta kiểu gì cũng cao hơn điểm chính giữa. Nếu đoạn thẳng này được chia đôi một cách chính xác, thì rất khó có thể hình dung, rằng nửa trên không dài hơn nửa dưới»¹. Trong trường hợp này, sự nở kích thước của nửa dưới hoạt động đơn giản như một sự bù trừ. Nhờ có sự bù trừ này, có thể ép buộc hai nửa nhìn có vẻ bằng nhau.


HƯỚNG

Hướng, cũng giống như trọng lượng, ảnh hưởng tới sự cân bằng. Tương tự như trọng lượng, vị trí của nguyên tố tạo hình ảnh hưởng trực tiếp tới nhận thức về hướng. Trọng lượng của bất kỳ nguyên tố bố cục nào, dù nó có là một phần của kế hoạch kết cấu ẩn diện hay của đối tượng lộ diện, đều hút tất cả các đồ vật hàng xóm láng giềng, và bằng cách đó tạo cho chúng một hướng xác định. Tôi đã chỉ ra sự hấp dẫn hướng tâm của cái đĩa về phía điểm giữa của hình vuông. Trong minh hoạ số 11, con ngựa được nhận thức là được vẽ vào chiều sâu của không gian, bởi vì, sự chú ý của chúng ta bị kỵ sỹ lôi cuốn.


DƯỚI HẦM MỘ PLATO

Loài người vẫn quanh quẩn cư trú dưới hang động Plato và theo một thói quen bao thế kỷ vẫn chỉ thích thú với những bóng đổ, hình ảnh của sự thật chân lý. Nhưng nhiếp ảnh dạy chúng ta theo một cách khác, không giống như những hình ảnh nhân tạo hơn và cổ xưa hơn. Thứ nhất, những hình ảnh tiềm ẩn sự chú ý của chúng ta, giờ đây đã có nhiều hơn hẳn. Kê thức của nhiếp ảnh đã ra đời vào năm 1839, và từ đó trở đi, hầu như tất cả mọi thứ, có lẽ, đều có thể được chụp. Chính thói tham lam của con mắt nhiếp ảnh này đang làm thay đổi các điều kiện giam giữ trong hang động — biến nó trở thành thế giới của chúng ta. Đào tạo chúng ta bằng một bộ luật thị giác mới mẻ, các bức ảnh đang chuyển đổi và mở mang hình dung của chúng ta về những thứ mà nên nhìn trực tiếp và đáng nhẽ chúng ta có quyền quan sát tường tận. Chúng — là ngữ pháp và, điều quan trọng hơn nữa, luân lý của nhãn sinh quan. Và, cuối cùng, kết quả hùng tráng nhất của hoạt động nhiếp ảnh: nó cho chúng ta cảm giác, rằng chúng ta có thể chứa được trong đầu toàn bộ thế giới — như một tuyển tập của hình ảnh.



More:



QUAN ĐIỂM QUY NẠP BỘ QUÃNG BA

Hợp âm là những «người» đại diện cho giai âm, là những thanh âm vang lên đồng thời hoặc nối tiếp trong một không gian riêng biệt của một ngôi nhà chung mang tên tác phẩm. Bởi vậy các thanh âm của hợp âm có quy luật linh hồn của riêng chúng, không tách rời khỏi giá trị toàn vẹn và thống nhất. Vậy có thể đưa ra một định nghĩa thế nào cho ngôn từ «hợp âm» để vừa phù hợp với các quan niệm cổ điển, vừa không nghịch lý với những diễn biến hiện đại của thế kỷ XX-XXI?


CHƯƠNG III — PHÂN LOẠI GIAI ÂM (P4)

Trước khi chuyển sang nghiên cứu hợp âm, chúng ta cùng tạm khép lại chương III với bài viết phân loại các hệ thống giai âm. Chúng ta cũng đã biết về phép biện chứng quy sự hình thành của các hệ thống giai âm có nguồn gốc từ ngữ âm, tôn giáo, sinh hoạt âm nhạc dân gian. Giai âm là một vấn đề trừu tượng, có thể nói, rất khó để hình dung. Nhưng nếu như ngữ âm có thể hiểu được, thì giai âm cũng không phải là không có kênh tiếp cận.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P3)

Như đã biết, cái đẹp trong một tác phẩm nghệ thuật bất kỳ, đó là cảm nhận chung. Nói riêng trong âm nhạc, trong vòng 5-10 phút thưởng thức, nếu bộ máy thính giác chỉ nhận được các quãng thuận âm, chỉ phân tích các âm thanh tròn trịa, thẩm mỹ về cái đẹp sẽ gặp tình trạng thoái trào. Tác phẩm nghệ thuật bất kỳ luôn luôn là một cơ thể có cá tính (chủ đề), có phát triển trong mạch xuyên suốt (ngẫu hứng), và có tái hiện, kết ý (finalis), v.v... Mời các bạn tham khảo bài giảng tiếp theo của Kholopov về giai âm.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P2)

Loài người đang sống trong thế kỷ thứ XXI. Dù là tự nguyện hay ép buộc, chúng ta đang chứng kiến những thay đổi vượt tầm hình dung của các nhạc sỹ cổ điển tây phương những thế kỷ trước. Cũng phải thôi, sự tiến hóa luôn luôn diễn ra, chỉ có điều, với một thời gian quá ngắn ngủi, chúng ta chưa kịp thích một điều gì đó mới mẻ thì đã bị những niềm đam mê xưa cũ chiếm lĩnh toàn bộ thời gian và tâm trí. Giai âm cũng có lịch sử và sự tiến hóa của mình, điều đó được đề cập đến trong phần viết này của tác giả Kholopov.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P1)

Trong tiếng Nga có từ Лад, đọc là Lad, hàm ý ám chỉ sự đồng thuận đồng ý. Và trong ngôn ngữ dân dã, người ta vẫn thường nói ладно (ladno) — có nghĩa là «thôi được», «thôi cũng được», «nhất trí nhé», vân vân. Vậy phải chăng giai âm là một sự ước lệ của sự thuận tai? Và rất có thể, nó liên quan cụ thể đến các nền văn hoá, khi đó chúng ta có các giai âm khác nhau.


CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P3).

Thuận âm và nghịch âm là vấn đề quan trọng nhất trong mọi thời đại, nếu đề cập tới lý thuyết âm nhạc. Thật thú vị, con người cảm âm, trước tiên, là theo bản năng, rồi sau đó mới theo khía cạnh giáo dục. Còn những vị tổ của môn khoa học hòa âm, những thiên sứ của Vũ Trụ gửi xuống, đã để lại cho chúng ta một kho tàng quá đồ sộ về các bí mật của thế giới âm nhạc. Để đọc nốt nốt chương II, chúng ta dùng nhạc nền là bài hát Julia của John Lennon huyền thoại.


CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P2).

Nếu bạn nói với một đứa trẻ, bảo nó hát hai âm cao bằng nhau, nó sẽ làm được ngay. Nhưng khi câu chuyện tiến xa hơn, liên quan đến các quãng khác, đầu óc như tờ giấy trắng của trẻ nhỏ cần có thời gian tiếp xúc, lắng nghe, ghi nhớ, luyên tập để có thể phản xạ lại chính xác. Trong âm nhạc còn nhiều bí mật ở các khía cạnh khác nhau mà chúng ta có thể tìm hiểu qua sách của Kholopov. P2 nói về vấn để quãng tám, phát hiện ra quy luật tâm sinh lý cũng như toán lý của nó. Và, chính từ đó, đào sâu vào tính chất của các thuận âm và quy tắc cộng hưởng.



More:



PHÍA SAU LƯNG NƯỚC NGA

Nước Nga đón tôi bằng một xi lanh hút máu 45ml ở sân bay, làm thằng bé 45kg suýt ngất. Không sao, cô y tá xinh đẹp cho thằng bé ngửi bông tẩm sam-ma-gôn (rượu nút lá chuối của xứ đó), nó tỉnh lại tức thì.


CẢM NGHĨ VỀ MÁY PHIM

Sau đôi ba năm nhìn màn hình laptop hàng ngày trong ánh sáng run bần bật của đèn neon, mắt ai rồi cũng có phần kèm nhèm. Thế nên có dịp Tết nghỉ lâu lâu là tôi lại muốn vút đi đâu đó để lấy lại cảm giác nhìn về vô tận. Đôi mắt là ống kính tốt hơn bất kì ống kính máy ảnh nào, (trừ ống kính có chữ Leitz), nên cần bảo vệ chúng một chút không lại phụ công cha mẹ đã tặng cho mình.



MIDI — THEO DÒNG LỊCH SỬ

Thuật ngữ MIDI đã xuất hiện từ rất lâu. Đó là một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc điện tử. Hiểu biết ngôn ngữ này ở một mức độ nhất định — điều kiện cần cho các nhạc sỹ hoà âm phối khí trong môi trường điện toán.