Nghệ thuật bắt đầu ở nơi bắt đầu của chút chút.
Karl Bryullov 
(1799 - 1852)



CON NÒNG NỌC BỊ GỌI NHẦM TÊN

Trường hợp rõ ràng nhất của cách giải thích sai lầm về những bức vẽ của trẻ nhỏ là một ví dụ vẽ hình thù dạng nòng nọc, mà các học giả Pháp gọi là «hommes tetards»*, còn các nhà bác học Đức gọi là «Kopffiisler»**. Theo một quan điểm thông dụng, người ta cho rằng trong những bức vẽ này, hình ảnh phần thân bị buông bỏ hoàn toàn, và các tay bị lỗi khi dính trực tiếp vào đầu hoặc chân. Hình 137 và 138 là do các trẻ em bốn tuổi vẽ ra, cho thấy một số thực thể quái vật này. Để giải thích cho các bức vẽ, những giả thuyết khác nhau đã được đưa ra. Người ta cho rằng, đứa trẻ quên biểu hiện phần thân hoặc thậm chí «cố tình loại bỏ» nó khỏi bức vẽ của mình vì phép lịch sự. Nếu chúng ta ngắm kĩ tất cả điều này từ quan điểm phát triển gen, thì sẽ thấy cách giải thích đó không có bất cứ liên quan gì tới bản chất của sự việc, bởi vì thực ra hình ảnh phần thân cũng không bị mất hẳn trong các bức vẽ này.


KÍCH THƯỚC

Cũng giống như các yếu tố khác đã được chúng ta mổ xẻ, kích thước vẫn là một thứ chưa được vi phân từ những thời khắc ban đầu. Định luật vi phân buộc chúng ta phải chờ đợi rằng, những mối quan hệ giữa các kích thước được biểu hiện lúc đầu theo kết cấu bằng một con đường đơn giản nhất, có nghĩa, thông qua phương tiện đẳng thức. Thực tế mà nói, các đơn vị của một tình huống tạo hình được nhận thức là bằng nhau về kích thước, một khi còn chưa xuất hiện nhu cầu vi phân. Bởi vì nhớ được điều này, chúng ta sẽ không đặt ra một câu hỏi cũ rích: «Tại sao trong một số hình ảnh, những mối quan hệ của các kích thước là không tương ứng với thực tại?». Bù lại, chúng ta sẽ đặt vấn đề: «Điều gì đang kích thích trẻ em gán cho các đồ vật trong tranh vẽ của mình những kích thước khác nhau?». Nhận thức, theo một cách tương đối, ít phụ thuộc vào kích thước của các đối tượng. Hình dạng và định hướng của đối tượng không chịu tổn thất bởi thay đổi kích thước. Nếu nói theo ngôn ngữ của âm nhạc, đó chỉ đơn giản là «chuyển giọng». Đối với phần lớn người nghe, không có bất cứ sự khác biệt nào trong chuyện, một trích đoạn âm nhạc được chơi ở khoá nhạc nào, thì tương tự, sự thay đổi trực quan về kích thước vẫn là không được nhận thấy. Tính song song trực tiếp hơn có thể được phát hiện khi, các nhạc sỹ gọi đó là «tăng tông» hay «giảm tông», khi chủ đề vẫn là quen thuộc, thậm chí nếu «tốc độ tái tạo âm nhạc», có nghĩa kích thước thời gian của nó, đã thay đổi. Thông thưởng, chúng ta không nhận thức được sự thay đổi kích thước phối cảnh đều đặn trong các đối tượng của môi trường xung quanh. Bởi vì câu chuyện đang đề cập tới các hình mẫu, nên không ai quá quan tâm đến việc một bức ảnh có vẻ là quá nhỏ hay một bức tượng là quá khổng lồ. Trong phòng ở, một màn hình TV có vẻ là không lớn, nhưng, chỉ cần chú ý trong một thời lượng nào đó, thì nó sẽ trở thành một cái khung để tạo hình trong đó những con người và cao ốc «như thật».


SỰ DUNG NHẤT CỦA CÁC PHẦN

Trong các giai đoạn đầu của quá trình phát triển mỹ thuật, để có được phép vi phân hình dạng, người ta đã dùng phương tiện thêm các nguyên tố độc lập vào tổng thể. Chẳng hạn, đứa trẻ sẽ vượt qua phương thức thể hiện hình người trong dạng hình tròn bằng cách thêm vào tranh vẽ những đoạn thẳng, các vật thể có hình dạng kéo dài hoặc các đơn vị tạo hình khác. Mỗi một đơn vị này sở hữu một hình dạng đơn giản dễ xác định. Chúng giằng co với nhau đồng đều theo những quan hệ định hướng đơn giản, đầu tiên là ngang-dọc, sau đó là nghiêng. Kết cấu của những mô hình tương đối phức tạp trong tổng thể có thể đạt đường bằng cách kết hợp vài mô hình đơn giản. Điều đó không có nghĩa rằng, trong giai đoạn phát triển ban đầu, đứa trẻ không sở hữu hình dung tích hợp về đối tượng trong tổng thể. Sự đối xứng, tính đơn nhất của tổng thể và phép chia tỷ lệ đang chỉ ra rằng, đứa trẻ cung cấp (trong khuôn khổ phạm vi xác định) cho các phần một hình dạng nào đó theo quan điểm sắp xếp cuối cùng của chúng trong mô hình chung. Nhưng phương pháp phân tích cho phép nghệ sỹ nhí của chúng ta trong mỗi một thời điểm xác định có thể tiếp cận với một hình dạng đơn giản hay với một hướng nào đó.


TƯ THẾ NGHIÊNG

Sau khi trẻ nhỏ có đủ năng lực phát triển nghệ năng thị giác để thể hiện những sự phụ thuộc góc vuông đơn giản nhất, chúng sẽ có khả năng đương đầu với những vấn đề phức tạp hơn — đó là thể hiện những hướng nghiêng. Đầu tiên là việc thêm đường chéo vào đường thẳng đứng và đường nằm ngang. Sau đó một chút, trong bộ công cụ của chúng sẽ xuất hiện những quan hệ về góc tinh vi hơn. Giờ đây, góc vuông đã biến thành một trường hợp đặc thù, với một giá trị đặc thù. Việc xem xét sự phát triển của các mối quan hệ này có thể được sử dụng để bàn luận các vấn đề phổ quát hơn. Tại sao khả năng vẽ của trẻ em lại tiến bộ từ tiến trình này tới tiến trình khác?


KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ TÍNH THẲNG VÀ TÍNH GÓC CẠNH ​

Chùm sáng trong mô hình mặt trời thường thấy nhất là được tạo thành từ các đoạn thẳng. Trong những điều kiện này sự lựa chọn một hướng cụ thể, có trong hình dung về một đoạn thẳng, được bù trừ bằng sự sắp xếp đối xứng của một tập hợp các đoạn thẳng bao trùm về mọi hướng với cấp độ như nhau. Trong một tư duy đã biết, hình ảnh mặt trời còn chưa đi quá xa khỏi tiến trình, khi tất cả các sự vật đều được thể hiện bằng phương tiện các hình tròn. Cũng cần nhấn mạnh rằng, sử dụng các đoạn thẳng riêng rẽ để thể hiện các vật thể ba chiều, đó là điều rất hiếm gặp. Thường thấy nhất, chúng bổ trợ cho một hình thù đã rõ đường viền. Các tia của chùm sáng kết nối với nhau ở tâm vòng tròn, các chi kết nối với nhau ở phần thân. Georg Kerschensteiner ¹, người đã nghiên cứu một số lượng lớn các bức vẽ của trẻ em, đã tuyên bố rằng, ông đã không tài nào phát hiện ra «những con người hình que», có phần thân không được tạo thành từ các đoạn thẳng. Chắc có lẽ, theo ý của ông, đó chỉ là một phương pháp tạo hình của người lớn. Hoàn toàn thấy rõ rằng, bức vẽ cần chứa đựng ít nhất một đơn vị hai chiều để truyền tải chất lượng không gian của «vật chất» bằng một phương pháp thỏa mãn được đứa trẻ. Những hình dạng dãn dài, hình oval thường được sớm sử dụng để kết hợp tính không gian với «tính định hướng», ví dụ trong hình ảnh phần thân của người hoặc con vật.


ĐỊNH LUẬT VI PHÂN ​

Trong trường hợp này, chúng ta tiếp cận với ví dụ đầu tiên về cái mà tôi tạm gọi là định luật vi phân. Tương ứng với định luật này, sự đặc biệt của nhận thức về một đối tượng, chừng nào nó còn chưa được vi phân, sẽ diễn ra theo cách đơn giản nhất có thể có. Hình tròn — hình dạng tối giản, có tronng chỉ thị của các phương tiện tạo hình. Chừng nào một hình dạng chưa được vi phân, hình tròn sẽ không tượng trưng cho một khái niệm tổng quát về đường tròn, mà sẽ ký hiệu cho một hình dạng bất kỳ nói chung và không phải ký hiệu riêng cho một hình dạng riêng lẻ nào. Trong tư duy và hoạt đông tạo hình của một người lớn, các đối tượng cũng thường được thể hiện dưới dạng các điểm, các hình tròn hay các vật thể dạng cầu, khi hình dạng thực sự của chúng còn là ẩn số hoặc còn chưa đồng thuận với mục đích của hình dạng này. Điều đó có liên quan tới hiểu biết của chúng ta về các phần nhỏ nhất trong vật lý hạt nhân, hoặc về các khái niệm của các nhà nguyên tử Hy Lạp cổ đại. Các thể cầu, đia tròn và hình dạng nhẫn đã đi vào các thuyết học của quá khứ như những mô hình hình dạng của trái đất và vũ trụ, bởi vì những kết luận này đã vừa dựa trên quan sát, vừa dựa trên một cố gắng tiến tới thể hiện một hình dạng chưa từng được biết đến hay những quan hệ không gian theo cách đơn giản nhất có thể, ở những mức độ tin cậy khác nhau. ​


VÒNG TRÒN ĐẦU TIÊN ​

Theo dõi, một hình dạng có tổ chức được lộ diện từ nét vẽ nguệch ngoạc của trẻ nhỏ theo cách như thế nào, — điều đó có nghĩa, nhìn thấy một trong những hiện tượng kỳ diệu nhất của thiên nhiên. Khán giả không thể không hồi tưởng tới một quá trình đầy sáng tạo khác, quá trình hình thành những chuyển động xoáy trong vũ trụ và sự tạo dựng những vật thể dạng cầu từ vật chất khí quyển. Những hình dạng uốn tròn từ từ xuất hiện trong những «đám mây mờ» của những mảng miếng rích rắc. Trước hết, chúng là kết quả của những sự lặp lại có chu kỳ của những chuyển động tròn — là các dấu vết đọng lại của chuyển động tay tương ứng. Đồng thời, chúng minh chứng cho việc làm mềm mại hoá hay đơn giản hoá các đường cong méo, những điều luôn luôn diễn ra cùng một lúc với quá trình tiếp thu vận động. Trải qua một thời gian nào đó, hành động bất kỳ nào của tay cũng trở thành một chuyển động mượt mà, tạo ra một hình dạng đơn giản. Những con ngựa, khi chuẩn bị đổi hướng phi qua cổng vựa, sẽ thể hiện một đường cong tuyệt vời. Đường đi có dạng tròn của những con chuột, lởn vởn trong mê cung ngoặt vuông, và những đường xoắn ốc kỳ diệu của những đàn bồ câu, — đó là những ví dụ tiếp theo về kỹ năng vận động như thế. Lịch sử chữ viết chỉ ra rằng, những đường cong thay thế cho những đường nhọn, còn sự liên tục thay thế cho sự rời rạc. Việc ký tên chậm chạp cũng bị thay thế bằng kiểu chữ viết nhanh. ​



More:



VÒNG QUÃNG NĂM BÍ ẨN

Vòng quãng năm của các âm điệu (hay vòng kvarto-kvint) – đó là một sơ đồ được các nhạc sỹ sử dụng để giao diện hóa các quan hệ giữa các âm điệu (giọng). Nói cách khác, đó là một phương pháp thuận tiện để tổ chức mười hai nốt nhạc của gam cromatic.



PHÍA SAU LƯNG NƯỚC NGA

Nước Nga đón tôi bằng một xi lanh hút máu 45ml ở sân bay, làm thằng bé 45kg suýt ngất. Không sao, cô y tá xinh đẹp cho thằng bé ngửi bông tẩm sam-ma-gôn (rượu nút lá chuối của xứ đó), nó tỉnh lại tức thì.